Hội chứng bệnh khí huyết

HỘI CHỨNG BỆNH KHÍ HUYẾT

 

1. Các hội chứng bệnh về khí:

 

Khí là một phần cấu tạo của cơ thể, là chất căn bản duy trì sự sống của con người, có tác dụng thúc đẩy huyết và công năng tạng phủ kinh lạc hoạt động. Có 4 loại khí:

 

- Nguyên khí: còn gọi là sinh khí, chân khí, khí của chân nguyên. Do tinh của tiên thiên sinh ra, được tàng trữ ở thận, sau này được khí của hậu thiên bổ sung không ngừng.

 

- Tông khí: Do khí trời từ phế hợp với khí của đồ ăn thức uống do tỳ vận hoá ra mà thành. Tông khí có chức năng vận hành khí, huyết, hô hấp, tiếng nói, tay chân.

 

- Dinh khí: còn gọi là doanh khí. Là do chất tinh vi của đồ ăn được tỳ vận hoá mà thành, đi vào mạch tạo thành một bộ phận của huyết dịch, theo huyết dịch đi toàn thân, có tác dụng sinh ra huyết và dinh dưỡng toàn thân.

 

- Vệ khí: bắt nguồn từ tiên thiên, do dương khí của thận sinh ra, được khí của hậu thiên bổ sung. Vệ khí đi ra ngoài mạch, phân bố toàn thân, có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể chống lại ngoại tà xâm nhập.

 

Sự thịnh suy của khí liên qua đến công năng hoạt động của 4 tạng Phế, Tỳ, Thận và Can:

 

- Phế: Chủ khí, chủ hô hấp, khí trời do phế đưa vào hợp với khí của đồ ăn thức uống do tỳ vận hoá mà tạo nên tông khí. Phế chủ tuyên phát và túc giáng, tuyên phát là thúc đẩy khí huyết tân dịch đi phân bố toàn thân, túc giáng là đưa phế khí đi xuống thận.

 

- Tỳ: Sự kiện vận của tỳ vị là gốc của hậu thiên, là gốc sinh hoá ra khí huyết của cơ thể, nên nói tỳ vị chủ về trung khí.

 

- Thận: Chủ nạp khí, khí do phế đưa xuống được nạp ở thận, nếu thận không nạp được khí làm phế khí nghịch lên gây ho, xuyễn.

 

- Can: chủ sơ tiết, giúp cho khí của các tạng phủ được vận hành dễ dàng, thông suốt, thăng giáng điều hoà.

 

Trên lâm sàng bệnh của khí thường biểu hiện với 3 hội chứng cơ bản là: Khí hư, Khí trệ và Khí nghịch.

 

1.1. Khí hư:

 

- Khí hư do cơ năng hoạt động của cơ thể và tạng phủ bị suy thoái, hay gặp ở người có bệnh mạn tính, người già yếu, hoặc ở thời kỳ hồi phục sau khi mắc bệnh nặng.

 

- Biểu hiện lâm sàng: Đoản khí, mệt mỏi, vô lực ăn kém, lưỡi nhạt, mạch hư vô lực. Có khi trương lực cơ giảm gây sa nội tạng gọi là chứng khí hư hạ hãm.

 

- Nguyên tắc điều trị: bổ khí, ích khí, kiện tỳ.

 

1.2. Khí trệ:

 

- Khí trệ là do cơ năng hoạt động của cơ thể hay một bộ phận của cơ thể bị trở ngại, thường do nguyên nhân sang chấn tinh thần, ăn uống thất điều, cảm phải ngoại tà.

 

- Biểu hiện lâm sàng: Đầy chướng, đau với dặc điểm: đau kèm theo chướng, chướng nhiều hơn đau, đau lúc nhiều lúc ít, vị trí không cố định, thiện án, thích xoa bóp. Tuỳ vị trí khí trệ mà có các triệu chứng tại chỗ như: ở ngực gây đau ngực vú căng, ngực sườn đầy tức; ở thượng vị gây vị quản thống, ợ hơi thì đỡ; ở ruột gây phúc thống, trung tiện thì đỡ…

 

- Nguyên tắc điều trị: hành khí, lý khí.

 

1.3. Khí nghịch:

 

- Khí nghịch hay thấy ở phế, vị, và can. Đàm và khí kết hợp làm phế khí không giáng gây nghịch lên. Vị bị hàn tích ẩm, ứ đọng đồ ăn. Can tình chí uất ức không sơ tiết được.

 

- Biểu hiện lâm sàng:

 

Phế: Ho, hen, khó thở, tức ngực.

 

Vị: Buồn nôn, nôn mửa, nấc, ợ hơi.

 

Can: Đau tức ngực sườn, đau thượng vị, lúc sốt, lúc rét.

 

Cần phân biệt chứng khí nghịch do thận hư không nạp được khí thuộc hư chứng, còn chứng khí nghịch trong các trường hợp trên là thực chứng.

 

- Nguyên tắc điều trị: giáng khí, thuận khí.

 

2. Các hội chứng bệnh về huyết:

 

Huyết là chất hữu hình được tạo thành do chất tinh vi của thủy cốc được tỳ vị vận hoá ra, do dinh khí đi trong mạch và do tinh được tàng trữ ở thận sinh ra. Huyết được khí thúc đẩy đi trong mạch đến nuôi dưỡng toàn thân. Huyết đủ thì cơ thể khoẻ mạch.

 

Huyết có quan hệ mật thiết với tất cả các tạng trong cơ thể:

 

- Tâm: chủ huyết mạch, tâm khí thúc đẩy huyết dịch đi trong mạch để nuôi dưỡng toàn thân.

 

- Can: chủ tàng huyết, tức là tàng trữ và điều tiết huyết trong cơ thể.

 

- Tỳ: chủ thống huyết, tức là quản lý, khống chế huyết đi trong mạch. Tỳ còn sinh huyết: sự vận hoá của tỳ tạo ra chất tinh vi của thủy cốc là nguồn gốc sinh khí huyết.

 

- Phế: phế chủ khí, khí lại thúc đẩy huyết đi trong mạch cho nên sự hoạt động của phế cũng liên quan đến sự vận hành của huyết.

 

- Thận: chủ tàng tinh, tinh sinh huyết, cho nên thận cũng là nguồn gốc sinh ra huyết.

 

Trên lâm sàng, bệnh của huyết gồm có 4 hội chứng là: Huyết hư, Huyết ứ, Huyết nhiệt và Xuất huyết.

 

2.1. Huyết hư:

 

- Huyết hư do mất máu mạn tính hay cấp tính, do tỳ vị hư nhược nên sự sinh hoá ra máu bị giảm sút.

 

- Biểu hiện lâm sàng: sắc mặt xanh hoặc hơi vàng, môi trắng nhợt, hoa mắt chóng mặt, trống ngực, mất ngủ, tay chân tê, chất lưỡi nhạt, mạch tế hay tế sác. Trên lâm sàng, huyết hư thường đi kèm với khí hư, gọi là chứng khí huyết lưỡng hư.

 

- Nguyên tắc điều trị: Bổ huyết. Bổ khí huyết.

 

2.2. Huyết ứ:

 

- Huyết ứ là hiện tượng xung huyết tại chỗ hay xung huyết ở tạng phủ do chấn thương, viêm nhiễm, có khi do khí trệ gây nên huyết ứ.

 

- Biểu hiện lâm sàng: Đau tại chỗ ứ huyết, đau dữ dội, cự án, vị trí cố định, có hiện tượng sưng nóng đỏ, sắc mặt xanh tối, miệng môi tím, chất lưỡi xanh tím, có điểm huyết ứ.

 

- Nguyên tắc điều trị: hoạt huyết khứ ứ.

 

2.3. Huyết nhiệt:

 

- Do phần huyết có nhiệt hay nhiệt tà xâm nhập làm huyết đi sai đường (nhiệt bức huyết vọng hành).

 

- Biểu hiện lâm sàng: vật vã, miệng khô không muốn uống, người nóng, đêm nóng nhiều hơn. Chất lưỡi đỏ sẫm, mạch tế sác. Nếu nhiệt bức huyết vọng hành thì có hiện tượng xuất huyết.

 

- Nguyên tắc điều trị: thanh nhiệt lương huyết.

 

2.4. Xuất huyết:

 

- Xuất huyết do 4 nguyên nhân:

 

+ Huyết nhiệt, nhiệt bức huyết vọng hành.

 

+ Tỳ hư không thống huyết.

 

+ Huyết ứ gây thoát quản.

 

+ Do sang chấn.

 

- Biểu hiện lâm sàng:

 

+ Do huyết nhiệt: Xuất huyết đỏ tươi (máu cam, thổ huyết, đại tiện ra huyết, rong kinh…) kèm theo triệu chứng nhiệt.

 

+ Do tỳ hư không thống huyết: màu máu nhạt, chảy máu không ngừng, kèm theo có triệu chứng tỳ hư.

 

+ Do huyết ứ: máu màu tím, có máu cục, kèm theo có triệu chứng ứ huyết.

 

- Nguyên tắc điều trị:

 

+ Do huyết nhiệt: Lương huyết chỉ huyết.

 

+ Do tỳ hư: Kiện tỳ nhiếp huyết.

 

+ Do huyết ứ: Hoạt huyết chỉ huyết.

 


Speak Your Mind

*