U nang buồng trứng

Tên bài: U NANG BUỒNG TRỨNG

Bài giảng: lý thuyết

Thời gian giảng: 02 tiết

Địa điểm giảng bài: giảng đường

MỞ ĐẦU

U nang buồng  trứng  là những u có vỏ bọc ngoài  trong có chứa chất dịch gặp  trong mọi  lứa

tuổi. U nang buồng trứng gây rối loạn kinh nguyệt gây khó chịu tại chỗ, gây suy yếu chức năng sinh

sản, đôi khi gây suy nhược cơ thể hoặc có thể gây tử vong do các biến chứng tắc ruột hoặc bí tiểu.

Các khối u buồng trứng cơ năng như u tế bào hạt, hay u vỏ gây dậy thì sớm do tiết ra lượng

Oestrogen dủ làm phát triển vú, xuất hiện lông mu, cơ quan sinh dục phát triển mặc dù thiếu sự rụng

trứng. Do đó ở các em gái dậy thì sớm nếu sờ thấy buồng trứng to lên cần phải xem xét cẩn thận các

khối u buồng trứng bất thường.

I. NANG CƠ NĂNG:

Là những nang nhỏ chứa dịch, có thể gặp ở bất kỳ tuổi nào nhưng hay gặp ở tuổi dậy thì và

tiền mãn kinh. Thường  là những nang nhỏ,  trên  lâm  sàng khó phát hiện, nhưng nếu khối u có kích

thước từ 5-6 cm thì có thể sờ thấy, thường gặp ở tuổi mãn kinh, do đó bệnh nhân cần phải được theo

dõi cẩn thận. Nang thường biến mất sau vài vòng kinh, nếu nang tồn tại trên 60 ngày với kinh nguyệt

bình thường thì phải coi chừng là u thực thể.

1. Nang bọc noãn:

Kích  thước nang  thường  từ 3-8 cm hoặc  lớn hơn, do nang De Graff không vỡ vào ngày qui

định.

- Triệu chứng: không rõ ràng, đôi khi biểu hiện ra máu hoặc xoắn nang hoặc gây ra chu kỳ kinh

dài, hoặc ngắn. Khi nang to gây đau tiểu khung, đau khi giao hợp.

- Chẩn đoán phân biệt với: viêm vòi trứng, lạc nội mạc tử cung, nang hoàng thể, khối u khác.

- Xử trí: thường nang biến mất tự nhiên trong khoảng 60 ngày, không cần điều trị.

Dùng thuốc tránh thai tạo vòng kinh nhân tạo.

Nếu nang tồn tại trên 60 ngày với chu kỳ kinh đều thì phải xem xét có khả năng không phải

nang cơ năng. Nên soi ổ bụng, chọc hút nang dưới sự hướng dẫn của siêu âm cũng còn là vấn đề cần

bàn cãi vì nếu u là thực thể thì tế bào khối u có thể rơi vào khoang bụng làm lan tràn khối u.

2. Nang hoàng thể:

Có hai loại nang hoàng thể: nang tế bào hạt và nang tế bào vỏ.

2.1. Nang hoàng  thể  tế bào hạt: là nang cơ năng, gặp sau phóng noãn, các  tế bào hạt  trở nên

hoàng thể hoá.- Triệu chứng:

Đau vùng chậu, gây vô kinh hoặc muộn kinh dễ nhầm với chửa ngoài  tử cung, có  thể xoắn

nang, vỡ nang gây chảy máu phải soi ổ bụng hoặc mở bụng để cầm máu.

2.2. Nang hoàng thể vỏ: loại nang này không to, hay gặp ở hai bên buồng trứng, dịch trong nang

co màu vàng rơm. Loại nang này thường gặp trong buồng trứng đa nang, chửa trứng, chorio hoặc quá

mẫn trong kích thích phóng noãn.

- Xử trí:  nang thường biến mất sau điều trị như nạo trứng, điều trị chorio.

2.3. Buồng trứngđa nang(Stein-Leventhal syndrom):

Gặp ở hai bên buồng  trứng, gây vô kinh, vô  sinh,  thiểu kinh, 50% có mọc  râu và béo phì  .

Buồng trứngđa nang  hay gặp ở những trường hợp có rối loạn có liên quan đến vùng dưới đồi.

Biểu hiện bằng vỏ buồng  trứng bị sừng hóa, bề mặt  trắng ngà nên gọi là hình con sò, nhiều

nang nhỏ nằm dưới lớp vỏ dày.

- Chẩn đoán: dựa vào khai thác tiền sử, khám thực thể, xét nghiệm LH tăng cao, theo dõi nhiệt độ

cơ thể không có phóng noãn.

Chẩn đoán xác định qua siêu âm và soi ổ bụng.

- Điều trị: Chlomifen 50-100 mg trong 5-7 ngày kết hợp Pregnyl 5000 đơn vị gây phóng noãn, đôi

khi phải cắt góc buồng trứng.

II. U NANG BUỒNG TRỨNG THỰC THỂ:

1. U nang biểu mô buồng trứng: chiếm 60-80% tất cả các loại u nang gồm: u nang nước, u nang

nhày, lạc nội mạc tử cung, u tế bào sáng, u Brenner, u đệm buồng trứng.

1.1. U nang nước:

Vỏ mỏng, cuống dài, chứa dịch trong, to, đôi khi choán hết ổ bụng,là khối u lành tính, có thể

có nhú ở mặt trong hoặc mặt ngoài vỏ nang. Nếu có nhú dễ ác tính.

- Triệu chứng: gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng hay được phát hiện ở tuổi 20-30.

- Khám  tiểu khung thấy khối u.

- Xử trí: mổ cắt bỏ nang.

1.2. U nang nhày:

Chiếm khoảng 10-20% các loại u biểu mô, 85% là lành tính.

Cấu  tạo vỏ nang gồm 2  lớp:  tổ chức xơ và biểu mô  trụ. U nang gồm nhiều  thuỳ  trong chứa

dịch vàng, kích thước to nhất trong các u buồng trứng.- Xử trí: mổ cắt bỏ u nang.

1.3. Lạc nội mạc tử cung:

Thường phát hiện được qua  soi ổ bụng hoặc  trong phẫu  thuật 10-25% do  tuyến nội mạc  tử

cung phát triển ra ngoài tử cung, hay gặp ở buồng trứng

Cấu  tạo vỏ nang mỏng,  trong, chứa dịch màu chocolate, khối u  thường dính, dễ vỡ khi bóc

tách.

- Chẩn đoán: biểu  hiện  các  triệu  chứng đau  hạ  vị, đau  bụng  khi  hành  kinh, đau  khi  giao  hợp.

Khám tiểu khung phát hiện khối u.

1.4. Khối u tế bào sáng (Mesonephroid tumour) giống u lạc nội mạc tử cung. Chỉ chẩn đoán xác

định được bằng giải phẫu bệnh.

1.5. Khối u Brenner: 80% là lành tính.

- Khám  tiểu khung: phát hiện khối u, mật độ khối u có chỗ mềm chỗ cứng, bổ  ra có màu vàng

hoặc trắng.

2. U nang bì (Dermoid cyst):

Chiếm tỷ lệ 25% khối u buồng trứng. Hay gặp là teratom, khối u chứa tổ chức phát sinh từ tế

bào mầm. Trong nang chứa các tổ chức như răng, tóc, bã đậu. U nang bì thường lành tính nhưng cũng

có thể trở thành ác tính. Hay được phát hiện ở lứa tuổi 20-30 tuổi. Khoảng 20% phát triển ở cả hai bên

buồng trứng.

- Triệu chứng: thường không có triệu chứng. Phát hiện khi mổ lấy thai hoặc chụp X-quang thấy

răng trong khối u.

- Điều trị: phẫu thuật là phương pháp tối ưu. Nếu nang nhỏ nên cắt bỏ phần u, để lại phần buồng

trứng lành.

III. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG:

Biến chứng hay gặp là:

1. Xoắn nang: hay gặp ở khối u có kích thước nhỏ, cuống dài, không dính, xoắn nang có thể xảy ra

khi đang mang thai, hoặc trong khi chuyển dạ.

- Triệu chứng: đau đột ngột, dữ dội, vã mồ hôi, choáng, nôn.

- Xử trí: mổ cấp cứu.

2. Vỡ nang: xảy ra sau khi nang bị xoắn.

3. Nhiễm khuẩn nang: xảy ra khi xoắn nang. Nhiễm khuẩn làm nang to lên, dính vào các tạng xung

quanh. Biểu hiện lâm sàng giống viêm nội mạc tử cung.4. Chèn ép tiểu khung: khối   u chèn ép vàotrực tràng, bàng quang. Nang to, tiến triển trong nhiều

năm choán hết ổ bụng, chèn ép tĩnh mạch chủ dưới gây phù, tuần hoàn bàng hệ, cổ chướng.

5. Chảy máu trong nang: do xoán  nang

6. Có thai kèm u nang buồng trứng:

Được chẩn đoán qua khám thai định kỳ hoặc qua siêu âm.

Có thể gặp bất kỳ loại nang nào, nhưng hay gặp là nang hoàng thể hay u nang bì, ít khi gặp

nang ác tính. Nếu tiên lượng sợ xoắn nang mổ càng sớm càng tốt. Nếu mổ sớm trong 3 tháng đầu thời

kỳ thai nghén dễ gây sảy thai, do đó nên mổ vào thời gian sau 16 tuần vì lúc này rau thai đã tiết đủ

progesteron để nuôi dưỡng thai, hơn nữa, nếu là nang hoàng thể thì lúc này cũng đã giảm kích thước

hoặc không phát triển nữa, do đó không cần thiết phải mổ.

Nếu u phát triển sau 16 tuần  thì nên mổ ngay,  trừ khi chỉ phát hiện được  trong  thời kỳ cuối

thai nghén.

U nang buồng trứng

U nang buồng trứng là loại khối u thường gặp nhất, chiếm tỉ lệ 3,6 % các bệnh phụ khoa. Bệnh phát triển âm thầm, lặng lẽ, có thời gian im lặng kéo dài, nhưng khi chuyển sang ác tính thì tiến triển rất nhanh…

U nang buồng trứng được chia làm hai loại: u nang cơ năng và u nang thực thể.

U nang cơ năng

U nang cơ năng của buồng trứng là những khối u có nguồn gốc từ các nang noãn xuất hiện do các rối loạn sinh lý trong quá trình phát triển chứ không phải do những tổn thương thực thể của buồng trứng. Như vậy, những khối u này chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định rồi biến mất.

U nang cơ năng bao gồm ba loại: nang bọc noãn, nang hoàng thể và nang hoàng tuyến.

- Nang bọc noãn: là nang noãn đã phát triển và trưởng thành (chín) nhưng không phóng noãn (rụng trứng) được, các tế bào hạt tiếp tục phát triển và chế tiết làm cho nang noãn to lên, lượng dịch được tích luỹ trong nang ngày càng nhiều tạo thành nang.

- Nang hoàng thể: bình thường sau khi phóng noãn, các tế bào hạt của nang noãn chế tiết progesteron tạo thành hoàng thể phát triển đến cực đại vào khoảng ngày thứ 21 đến 23 của vòng kinh sẽ thoái triển dần rồi teo đi để trở thành một đám thoái hoá màu vàng nên được gọi là thể vàng. Nếu vì một lý do gì đó mà hoàng thể không những không teo đi mà ngược lại còn phát triển mạnh thành một nang mỏng chứa đầy dịch ở bên trong.

Cả nang hoàng thể và nang bọc noãn thường tự tiêu sau 4 đến 8 tuần mặc dù không được điều trị gì. Cho đến nay vẫn chưa có phương pháp điều trị để rút ngắn thời gian thoái triển cũng như sự tái phát của hai loại nang trên.

- Nang hoàng tuyến: là các nang bọc noãn bị kích thích quá mức nên không phóng noãn mà bị hoàng thể hoá. Là loại nang cơ năng ít gặp nhất, thường gặp trong chửa trứng. Nguyên nhân chính tạo nên nang hoàng tuyến là do buồng trứng bị kích thích quá mức do nồng độ hCG quá cao trong máu như chửa nhiều thai, chửa trứng và bệnh u nguyên bào nuôi hoặc dùng hCG liều cao để gây phóng noãn trong điều trị vô sinh. Nang hoàng tuyến thường gặp cả hai bên buồng trứng, kích thước lớn từ 15 -20 cm, do nhiều nang nhỏ hợp thành, bên trong chứa dịch màu vàng nhạt, đôi khi lẫn máu giống như dịch của nang hoàng thể. Thông thường sau khi nạo hết trứng, hoặc điều trị khỏi bệnh u nguyên bào nuôi thì nang cũng tiêu đi. Trong điều trị bệnh u nguyên bào nuôi, nếu còn nang hoàng tuyến nghĩa là còn tế bào nuôi đang phát triển.

Các biến chứng của các nang cơ năng:

-Vỡ nang: do vỏ mỏng nên khi thăm khám hoặc có áp lực đè mạnh lên bụng sẽ gây vỡ nang. Nếu vỏ nang có mạch máu bị tổn thương sẽ gây chảy máu, bệnh cảnh giống như chửa ngoài tử cung (CNTC) vỡ và phải xử trí bằng phẫu thuật.

- Chảy máu trong nang là một biến chứng thường gặp và làm cho bệnh nhân đau bụng mà mức độ đau phụ thuộc vào tình trạng chảy máu nhiều hay ít.

- Xoắn nang: khi cuống nang dài, nang di chuyển và bị xoắn, gây hoại tử.

- Trong những trường hợp nang bọc noãn và nang hoàng thể có kích thước bé 3-5 cm, dễ chẩn đoán nhầm với CNTC chưa vỡ.

Điều trị u nang cơ năng

Trong những nang bọc noãn và nang hoàng thể cần theo dõi 2-3 tháng, nếu sau thời gian theo dõi mà khối u vẫn tồn tại thì nên mổ. Trong thời gian theo dõi, có thể dùng thuốc tránh thai để buồng trứng nghỉ ngơi, không chịu sự kích thích của tuyến yên, nang sẽ tự thoái triển. Nang hoàng tuyến thì phải điều trị bệnh chính là chửa trứng hoặc u nguyên bào nuôi. Không nên chọc hút nang vì dịch chảy ra ổ bụng sẽ gây dính.

U nang buồng trứng.

U nang thực thể buồng trứng

U nang thực thể buồng trứng là những tổn thương giải phẫu từ nhu mô bình thường của buồng trứng trở thành những khối u thực thể, tiến triển âm thầm, kéo dài trong nhiều năm. U nang thực thể buồng trứng gồm ba loại là u nang nước, u nang nhầy và u nang bì.

- U nang nước: là một túi chứa nước có cuống dài, vỏ mỏng, di động, mặt ngoài trơn nhẵn, bên trong chứa dịch trong, đôi khi có nhiều thuỳ . Vỏ nang thường trơn nhẵn và mỏng nên dễ vỡ. Mặt trong của vỏ nang thường nhẵn. Nếu nang có những nhú nhỏ thì đã bị ung thư hoá. Nếu số lượng nhú càng nhiều thì nguy cơ bị ung thư hoá càng cao. Đôi khi dịch trong nang chứa màu nâu hay màu sô cô la là do chảy máu trong nang.

- U nang nhầy là loại khối u có vỏ dầy hơn, màu trắng hoặc trắng ngà, có cấu trúc giống như da. Trong nang chứa chất dịch nhầy trong, có vách ngăn khối u thành nhiều thuỳ nhỏ. U nang nhầy rất thường gặp, kích thước thay đổi từ vài trăm gam nhưng cũng có khi nặng tới hàng chục ki lô gam, có thể dính vào các tạng xung quanh. Mức độ ung thư hoá rất thấp vì lớp vỏ giống tổ chức da là loại đã biệt hoá cao, nhưng nếu khối u bị vỡ hoặc các tế bào khối u xâm nhập vào ổ bụng thì sẽ tiết các chất nhầy gây bệnh dày dính phúc mạc. Có tác giả cho rằng hiện tượng nhầy hoá phúc mạc là hậu quả của một sự lan tràn của một u nang nhầy ở mức độ ung thư thấp (borderline).

- U nang bì hay còn gọi là u quái là loại u lành tính, chiếm khoảng 10% tổng các khối u buồng trứng, có thể gặp ở tuổi trẻ em, vị thành niên, sinh đẻ và người già. Vỏ khối u dầy, trơn láng, có lẫn những sợi cơ. Lớp vỏ bên trong có cấu trúc giống như da. Kích thước khối u thường không to, có đường kính dưới 10 cm, nhưng nặng nên dễ gây xoắn, thường là một bên, nhưng có 10 – 20 % là khối u gặp cả hai bên. Trong nang chứa các tổ chức của da đã biệt hoá cao như lông, tóc, móng, răng, chất bã đậu. Cũng có thể thấy các tổ chức của xương, sụn hoặc một chất trắng như não hay thần kinh. Nguồn gốc của khối u là từ lá thai ngoài. Nếu khối u chứa những tổ chức non xuất phát từ lá thai trong hoặc lá thai giữa (từ tế bào mầm), chưa biệt hoá (như tổ chức của bào thai: thần kinh, tuyến giáp) thì nguy cơ bị ung thư cao.

Bệnh phát triển âm thầm, lặng lẽ gần như không có triệu chứng, chỉ được phát hiện một cách tình cờ như khám sức khoẻ định kì hay siêu âm bụng mà phát hiện ra. Cũng có khi biểu hiện một bệnh cảnh cấp cứu ngoại khoa ở bụng do xoắn cuống nang, hoặc do biến chứng của khối u như chèn ép gây đau hay bí trung, đại tiện. Thông thường người bệnh chỉ phát hiện được khi khối u đã to, có kích thước lớn nên tự sờ thấy được hoặc khám sức khoẻ hay siêu âm kiểm tra mà phát hiện được.

Biến chứng

+ Xoắn cuống nang: là một cấp cứu thường gặp trong phụ khoa. Bệnh hay xảy ra ở những trường hợp khối u có cuống dài, có đường kính khoảng 8 – 10 cm, vì khối u nhỏ, lại có cuống dài nên dễ di động, khối u nặng dễ bị xoắn. Tất cả các loại đều có thể bị xoắn nhưng u nang bì gặp nhiều hơn. Nếu được chẩn đoán sớm, xử trí kịp thời tiên lượng tốt. Nếu chẩn đoán muộn, khối u vỡ hoặc hoại tử, bệnh nhân bị nhiễm độ nặng có nguy cơ dẫn đến tử vong.

- Vỡ nang là biến chứng ít gặp và nếu xảy ra thì tỉ lệ cao ở u nang nước do có vỏ mỏng, là hậu quả của xoắn cuống nang mà không được cấp cứu kịp thời, hoặc khi thăm khám thô bạo, hoặc chấn thương ở vùng bụng, cũng có thể gặp sau giao hợp.

- Có thể gây vô sinh, sẩy thai, đẻ non hay cản trở cuộc đẻ gây đẻ khó.

- Có khả năng chuyển thành ung thư.

Điều trị

Phải mổ cắt bỏ u càng sớm càng tốt để tránh các biến chứng.

BS. Vương Tiến Hòa

Nguồn: suckhoedoisong.vn

Speak Your Mind

*