Chữa bệnh hẹp môn vị bằng y học cổ truyền

0
466


I. Y HỌC HIỆN ĐẠI

1.1. Đại cương

Hẹp môn vị là một biến chứng thường gặp của nhiều bệnh, thông thường nhất là do loét dạ dày – tá tràng và ung thư hang môn vị

1.2. Nguyên nhân

1.2.1. Loét dạ dày tá tràng

* Tất cả các loét ở gần hay xa môn vị đều có thể gây ra hẹp môn vị. Thông thường là loét môn vị, dạ dày hay hành tá tràng sát môn vị.

* Cơ chế.

– Ổ loét xơ, sẹo không hồi phục ở môn vị hay gần môn vị.

– Phù nề: Viêm nhiễm gây phù nề ở môn vị, hang vị, hành tá tràng.

– Co thắt.

1.2.2. Ung thư.

Ung thư hang vị – môn vị

1.2.3. Các nguyên nhân khác.

– Ở dạ dày: Bỏng, u lành tính ở môn vị, hạch trong bệnh Lympho hạt, các u lao, giang mai.

– Ngoài dạ dày: Bệnh túi mật (sỏi mật, viêm quanh túi mật gây dính gây co kéo vùng hành tá tràng, môn vi) ung thư túi mật và đường mật di căn, bệnh tụy (Viêm tụy mạn và ung thư đầu tụy).

1.3.1. Giai đoạn bắt đầu.

Dấu hiệu chưa rõ ràng, biểu hiện lâm sàng thường nhẹ và chưa có biến loạn toan thân.

* Lâm sàng

– Đau và nôn không thường xuyên, không rõ rệt, cảm giác đầy bụng.

* Hút vào lúc đói, có thể hút được 100ml (Bình thường 20-40ml) thường hút vào buổi chiều, 6 giờ sau bữa ăn còn thức ăn.

* X quang.

– Có hình ứ đọng nhẹ dạ dày. Giai đoạn này sóng nhu động dạ dày tăng lên từng đợt.

1.3.2. Giai đoạn sau.

Giai đoạn hẹp rõ.

* Lâm sàng.

– Nôn nhiều, nôn ra nước ứ đọng của dạ dày và thức ăn bữa trước.

– Đau: đau từng cơn, nôn được thì đỡ đau.

– Lắc óc ách lúc đoi.

– Sóng nhu động của dạ dày tăng lên.

* Hút dịch vị.

– Hút vào lúc đó, có thể hút được 300ml, 6 giờ sau bữa ăn nhiều thức ăn cũ.

* X quang.

– Có hình ảnh tuyết rơi.

– Dạ dày giãn to. Hình đáy chậu – thuốc ứ động không qua môn vị được, nương có số ít ( 18%) có hình giãn ở tá tràng đoạn 1 và 2 do phản xạ.

– Có nhu động: Dạ dày co bóp từng cơn, sau ì ra không co bóp.

1.3.3. Giai đoạn cuối.

* Lâm sàng.

– Nôn ít hơn, nhưng mỗi lần nôn ra rất nhiều thức ăn của bữa trước.

– Đau: đau liên tục, nhẹ hơn.

– Toàn thân: mất nước và suy sụp.

– Lắt óc ách lúc đói.

* X quang.

– Dạ dày giãn to, hình đáy chậu rõ.

* Rối loạn dịch thể.

– Tình trạng mất nước và điện giải.

1.4. Điều trị

– Bồi phụ nước và điện giải: Dựa vào các xét nghiệm điện giải và Hematocrit.

– Rửa dạ dày và hút dạ dày, nếu bệnh nhân ăn được thì uống sữ và các thức ăn dễ hấp thu.

– Điều trị phẫu thuật.chữa hẹp môn vị dạ dày

II. HẸP MÔN VỊ THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN.

2.1. Bệnh danh.

Bệnh thuộc phạm trù “ Phản vị”, “Đình ẩm”.

2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh hẹp môn vị.

* Tỳ vị hư hàn.

Ăn uống không điều độ, lao động mệt mỏi, tình chí không điều hòa…là những nguyên nhân tổn thương tới tỳ dương, dẫn tới tỳ vị hư hàn, không thể làm chín nhừ thức ăn mà thành phản vị.

* Tỳ vị thấp nhiệt.

Do ăn uống quá nhiều rượu, thấp nhiệt nội trở, ảnh hưởng đến sự vận hóa của trung tiêu, dẫn đến khí nghịch mà gây nôn.

* Đàm ẩm.

Do uống quá nhiều rượu, hút nhiều thuốc, thất tình, hoặc phòng dục quá độ..làm tổn thương đến công năng vận hóa của tỳ vị, khiến cho thức ăn không chuyển thành tinh hoa mà thành đàm ẩm, thấp trọc. Đàm ẩm nội trở khiến cho vị phủ mất chức năng thông giáng gây sớm tối nôn, tối ăn sớm nôn.

* Huyết ứ

Các nguyên nhân trên đều có thể dẫn tới khí hư, hí trệ, thức ăn không tiêu đàm ngưng cho nên huyết ứ. Ngoài ra do chấn thương, phẫu thuật cũng có thể dẫn tới huyết ứ. Huyết ứ làm vị mất chức năng hòa giáng, thức ăn không tiêu phản vị mà ra ngoài.

2.3. Biện pháp luận trị hẹp môn vị

Hẹp môn vị nói chung là tắc nghẽn không hoàn toàn, có thể chia thành 2 loại:

– Loại phù nề do viêm: Điều trị có kết quả tốt.

– Loại hẹp do sẹo gây tắc nghẽn hoàn toàn: Thường điều trị bằng phẫu thuật.

2.3.1. Thể tỳ vị hư hàn.

* Chứng trạng.

Vùng thượng vị lạnh đau, nôn thức ăn của bữa trước không tiêu, tinh thần mệt mỏi, ăn kém, đoản hơi ngại nói, tứ chi lạnh, sắc mặt vàng rơm, rêu lưỡi trắng, chất lưỡi nhạt, mạch tế hoãn vô lực.

* Pháp điều trị

Ôn trung kiện tỳ, hòa vị giáng nghịch.

* Bài thuốc: Đinh khấu lý trung thang

Đẳng sâm 15g Can khương 3g
Bạch truật 9g Cam thảo 5g
Bạch đậu khấu 5g Đinh hương 3g

* Ý nghĩa bài thuốc.

Lý trung thang (Thương hàn luận) Nhân sâm thay bằng Đẳng sâm.

Đẳng sâm: Bổ khí kiện tỳ. Can khương: Ôn trung tán hàn. Hai vị này trong bài là quân. Một số tác giả cho rằng nếu hàn nhiệt thì Can khương là quân, hư nhiều thì Đẳng sâm là quân. Bạch truật: Kiện tỳ táo thấp. Cam thảo: Bổ tỳ hòa trung. Bạch khấu nhân hương thơm tỉnh vị. Đinh hương: Lý khí giáng nghịch

Bài thuốc có ôn có bổ, có táo có hành, tác dụng chung ôn trung kiện tỳ, hòa vị giáng nghịch. Ôn trung kiện tỳ thì thăng thanh trọc giáng, không còn phản vị.

2.3.2. Hẹp môn vị Thể tỳ vị thấp nhiệt.

* Chứng trạng

Sau ăn trung quản trướng đầy, nôn ra thức ăn hôi chua, đại tiện bí, tiểu tiện vàng, miệng khát, ăn kém, rêu lưỡi vàng dầy, nhớt, mạch nhu sác.

* Pháp điều trị

Thanh vị tiết nhiệt, hóa thấp giáng nghịch.

* bài thuốc: Trúc nhự thang

Trúc nhự 9g Chi tử 9g
Trần bì 6g Cam thảo 5g
Tỳ bà diệp 9g Sinh khương 3g
Đại táo 9g

* Ý nghĩa của bài thuốc.

Chí chân đại luận sách Tố vấn viết “ Các bệnh chuyển phản, thủy dịch đục đều thuộc bởi nhiệt”. Bệnh nhân nôn ra dịch chua hôi đục thuộc chứng thấp nhiệt.

Trúc nhự, Chi tử: Thanh vị chỉ ôn. Trần bì, Đại táo, Cam thảo: Lý khí kiện tỳ.

Bài thuốc có hành có bổ, có lưu thông nhưng không thương tổn khí.

Bán hạ, Can khương: Giáng nghịch chỉ nôn cùng với Trúc nhự, Chi tử, trong thanh có ôn thì không sọ thương tổn trung tiêu.

Bản thảo kinh so viết “Tỳ bà diệp tính mát hạ khí, khí hạ thì hỏa không thăng lên, vị tự yên”. Trong bài lấy tác dụng hạ khí của Tỳ bà diệp.

Cảnh Nhạc toàn thư viết.

Phản vị do tửu thấp thương tỳ dùng Cát hoa giải tỉnh thang.

Nếu thấp nhiều thành nhiệt, vị hỏa xông lên dùng Hoàng cầm thang hoặc Bán hạ tả tâm.

2.3.3. Đàm ẩm nội đình.

* Chứng trạng

Nôn thức ăn và dịch, thượng vị nổi cục, ngực sườn đầy tức, ợ hơi, tinhh thần phiền muội, uất ức, đại tiện không thông, rêu lưỡi trắng trơn, mạch huyền hoạt.

* Pháp điều trị

Dịch đàm hóa ẩm, tiền hậu phân tiêu.

* bài thuốc: Kỷ tiêu lịch hoàng hoàn.

Phòng kỷ 15g Tiêu mục 15g
Đình lịch tử 30g Sinh địa hoàng 18g

* Ý nghĩa bài thuốc:

Đàm ẩm có hàn có nhiệt, có thực có hư, nhưng tắc nghẽn chưa giải quyết được làm thế nào trừ đàm mà không tổn thương chính khí: Cảnh nhạc toàn thư viết “Đàm ở giữa dạ dày và ruột có thể hạ mà khỏi”. “Lục phủ dĩ thông vi dụng” do vậy mâu chốt là phải thong hạ, đại tiện được triệu chứng sẽ giảm.

Trương Trọng Cảnh viết : “Bụng đầy, miệng lưỡi khô ráo, đây là giữ dạ dày và ruột có thủy khí, Kỷ tiêu lịch hoàng thang chỉ trị ho.

Đình lịch tử: Giáng tiết phế khí để thông điều thủy đạo. Phòng kỷ Tiêu mục: Công trục đàm ẩm, tà khí qua đường đại tiện ra ngoài. Đàm ẩm tieu trừ, tỳ thăng vị giáng, nạp, vận được khôi phục, phản vị sẽ ngừng.

Nếu thể chất hư nhược gia thêm Can khương, Nhục quế để tăng cường tác dụng ôn trung hóa đàm.

Nếu lưỡi tối, mạch đập, bụng đau dữ dội do ứ huyết gia thêm Đào nhân, Hồng hoa để hóa đàm hòa trung hoặc Sao sơn tra hục để hóa máu xấu, tiêu thực trệ.

2.3.4. Phương thuốc khác

– Tuyết lê 1 quả bỏ hạt, đặt 50 nụ Đinh hương vào. Bọc giấy, nướng chín ăn.

– Bích hổ 1 con (bỏ ruột, gã nát), trứng gà 1 quả. Mở 1 đầu trứng, nhồi Bích hổ vào, đậy kín hấp chín, mỗi ngày một quả, dùng liền vài ngày.

2.4. Phòng bệnh

– Tích cực điều trị bệnh loét dạ dày hành tá tràng, viêm dạ dày mạn tính…

– Ăn uống điều độ, kiêng rượu và thuốc lá, giữ gìn tinh thần vui vẻ tránh phòng dục quá độ để phòng bệnh hẹp môn vị.

LEAVE A REPLY