Thiểu năng tuần hoàn não chữa trị theo đông y

Thiểu năng tuần hoàn não điều trị theo Tây y

Theo y hoc hiện đại

Thiểu năng tuần hoàn não là danh từ thường dùng trong y học chỉ 1 trạng thái bệnh lý có rất nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau nhưng có cùng chung 1 cơ chế sinh bệnh đó là “Thiếu máu nuôi não” mà nguyên nhân chính là do xơ vữa động mạch, Nghĩa là ở thành động mạch có lắng đọng các mảng vữa, cấu trúc các mạng vỡ này bao gồm các chất mỡ và xơ.

Bệnh thường gặp ở: Người trung niên và cao tuổi, có biểu hiện chóng mặt, huyết áp thấp hoặc có xu hướng thấp. Người béo nhiều hơn người gầy. Y học đã chứng minh rằng “Hầu hết các chứng đau đầu, mất ngủ, chóng măt đều là biểu hiện của việc thiếu cung cấp máu lên não một cách mạn tính hay còn gọi là Bệnh thiểu năng tuần hoàn não”. Tỷ lệ mắc thiểu năng tuần hoàn não rất cao. Theo thống kê khoảng 2/3 người đứng tuổi đều mắc bệnh này, chiếm 9-25% tổng số các tai biến mạch máu não. Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến bệnh lý mạch máu não (Nhồi máu não, xuất huyết não, sa sút trí tuệ…). Các bệnh lý mạch máu não là nguyên nhân gây nên tỉ lệ tử vong đứng hàng thứ ba sau các bệnh lý về tim mạch và ung thư.

Thiểu năng tuần hoàn não biểu hiện triệu chứng trên lâm sàng:

Chóng mặt:

Có cảm giác hơi loạng choạng khi đi hoặc đứng, có cảm giác bồng bềnh như say sóng hoặc đi không vững. Có người cảm thấy hoa mắt, tối sầm mặt lại nhất là khi thay đổi tư thế đột ngột như tư thế nằm sang tư thế đứng đột ngột. Điển hình là cơn chóng mặt, thấy mọi vật như chao đảo quay chung quanh mình. Hiện tượng này xảy ra mỗi khi thay đổi tư thế làm cho bệnh nhân phải nằm nhắm mắt nằm im, hễ cử động là chóng mặt, buồn nôn. Các cơn chóng mặt kiểu này có thể chỉ ngắn vài phút, có khi dài đến vài ngày. Càng xuất hiện nhiều càng kéo dài thì bệnh càng nặng.

Nhức đầu:

Là triệu chứng xuất hiện với đặc tính nhức đầu lan tỏa khắp đầu, có cảm giác căng nặng trong đầu, nhất là mỗi khi phải suy nghĩ nhiều, tăng cảm xúc, lao động nhiều. Nếu nhức đầu xảy ra ở người cao tuổi không kèm theo tăng huyết áp có giá trị chẩn đoán lớn trong Thiểu năng tuần hoàn não nhất là khi đi kèm với triệu chứng chóng mặt.

Dị cảm:

Là những cảm giác không bình thường, không thật, do bệnh nhân tự cảm thấy. Ví dụ như cảm giác tê tê, bì bì ở đầu ngón, cảm giác kiến bò. Có bệnh nhân xuất hiện cảm giác đau nhiều vùng cơ thể như: dọc các xương sườn, đau ở cổ theo hai đường ở phía gáy, cảm giác lạnh ở dọc xương sống, cảm giác bốc hỏa. Có cảm giác như có tiếng ve kêu, ù tai, cối xay lúa trong tai, tiếng này tồn tại cả ban ngày lẫn ban đêm, có khi ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt, giấc ngủ và sức khỏe người bệnh. Đây là những biểu hiện sớm nhất của xơ vữa động mạch não.

Rối loạn về giấc ngủ:

Rất hay gặp và có đặc điểm là dai dẳng, khó chịu, khó chữa. Biểu hiện rất đa dạng; một số người biểu hiện chính là mất ngủ, ở người khác lại là rối loạn nhịp ngủ, lúc tối ngủ được, nửa đêm trằn trọc không ngủ, gần sáng lại ngủ. Đêm không ngủ được, ngày lại ngủ gà ngủ gật. Trong xơ vữa động mạch thường bệnh nhân mất ngủ vào nữa đầu của đêm và nữa phần sau, nếu bệnh nhân bị thức giấc thì khó ngủ lại, ngủ thường không sâu và hay mê.

Rối loạn về sự chú ý:

Bệnh nhân rất khó truyền sự chú ý từ vật này sang vật khác. Những kích thích từ ngoài trước đây thu nhận một cách dễ dàng và nhanh chóng thì nay chậm chạp và khó khăn, đòi hỏi một sự tập trung chú ý lớn. Bệnh nhân trở nên đãng trí, đang nghĩ chuyện này lại nhảy sang chuyện kia; đang nói về vấn đề này lại nhảy sang vấn đề khác một cách bất ngờ. Khả năng tập trung tư tưởng rất kém.

Rối loạn về tri giác:

Giảm hoặc tăng cảm giác với những kích thích bên ngoài, ngủ dễ thức giấc vì kích thích nhỏ.

Rối loạn về trí nhớ:

Biểu hiện sớm và phổ biến, biểu hiện thoáng quên, nhớ sự việc trong quá khứ nhưng sắp sếp sự việc không chính xác, tư duy lộn độn không mạch lạc.

Tư duy và trí tuệ:

Ngại thay đổi thói quen, nếp nghĩ, không muốn thay đổi tiếp xúc với cái mới, giảm khả năng sáng tạo.

Rối loạn xúc cảm:

Trong người luôn cảm thấy bồn chồn, không hoàn toàn làm chủ được mình với những lý do rất vụn vặt chẳng đâu vào đâu, Bản thân bệnh nhân cũng cảm thấy phản ứng như vậy là không đúng nhưng không kìm chế được, dần dần trở thành người trái tính, trái nết. Ngoài ra, còn hay mủi lòng, dễ xúc động, dễ tủi thân, than vãn, ca cẩm hết việc này đến việc khác. Tình trạng này có quan hệ chặt chẽ với mức độ O2 trong tưới máu não (càng xúc cảm mức độ tưới máu càng giảm).

Thay đổi nhân cách và tính tình:

Cốt hóa về nhân cách biểu hiện khả năng thích nghi của người bệnh giảm, biến đổi sang dấu hiện bệnh lý. Ví dụ: Ở những người trước kia nông nổi, nóng tính nay trở nên hay gây gổ, sinh sự. Người trước kia hiền lành an phận nay trở thành đa sầu đa cảm, tự ti…

Thiểu năng tuần hoàn não cần làm xét nghiệm cận lâm sàng:

  • Lưu huyết não: đánh giá dòng máu chảy tới não: Bản chất cho phép đánh giá khách quan tình trạng củ thể của thành Động mạch, trương lực mạch ở Não, máu tưới não qua đó đánh giá gián tiếp tình trạng xơ vữa động mạch.
  • Điện não đồ: EEG đánh giá hiệu quả việc tưới máu tại não: giúp chẩn đoán và tiên lượng bệnh thông qua đánh giá hậu quả của rối loạn huyết động trong não ngoài ra còn giúp chẩn đoán phân biệt vị trí tổn thương, huyết khối, xuất huyết. Khi điều trị EGG dần chuyển về bình thường thì tiên lượng tốt.
  • Chụp cột sống cổ thẳng nghiêng: Thấy hình ảnh thoái hóa cột sống cổ, có gai xương, thông thường ở C3-C5 hay bị chèn ép động mạch sống nền, thân nền dẫn đến giảm máu tưới não.
  • Chụp Động mạch não, chụp X quang sọ không chuẩn bị và 1 số phương pháp khác …

Thuốc tây điều trị bệnh thiểu năng tuần hoàn não chủ yếu là tăng cường tưới máu lên não, giảm các hiện tượng tắc mạch và chồng ngưng tập tiểu cầu

Thiểu năng tuần hoàn não Các thuốc Tây y điều trị   có 4 nhóm:

 

  • Nhóm các chất tổng hợp hữu cơ: Stugeron 25mg, vỉ 10v.
    Liều uống: 1-2 viên/ Ngày trong 14-30 ngày, nặng có thể tăng liều gấp đôi.
  • Nhóm các chât có nguồn gốc thực vật: Cavinton 10mg, hộp 50v
    Liều uống: 3 viên/ Ngày, cấp tính có dạng tiêm Tĩnh mạch chậm ống 10mg, pha với Nacl
  • Nhóm chất hỗn hợp: Tanakan 40mg, Liều uống: 3 viên/ Ngày
    Giloba 40mg, Liều uống: 1 viên/ Ngày
  • Nhóm các chất giống sinh học: Duxil 40mg, Liều uống 2 viên/ Ngày, cách xa mỗi lần dùng.

 

 

Thiểu năng tuần hoàn não Theo y học cổ truyền

Bệnh danh:

Thiểu năng tuần hoàn não thuộc phạm vi chứng “Huyễn vựng” của Y học cổ truyền. Huyễn là hoa mắt, Vựng là chóng mặt chao đảo như ngồi trên thuyền, chòng chành mọi vật xoay chuyển nghiêng ngã. Nhẹ thì thoáng qua, nặng thì tức ngực buồn nôn, đổ mồ hôi, ngặng nữa thì ngất xỉu. Dân gian gọi chung là hoa mắt chóng mặt.

Nguyên nhân bệnh lý theo YHCT:

  1. Can dương thượng cang: Do Can dương thịnh bốc lên trên gây huyễn vựng. “Sách Tố Vấn chí nhân đại luận nói: mọi chứng quay cuồng chao đảo đều thuộc Can mộc, ý nói can phong nội động sinh ra”. Hoặc do tình chí không thư thái, uất ức lâu ngày khiến can âm hao tổn, Can dương thăng động bốc lên trên gây Huyễn Vựng. Có khu Thận âm hư tổng không dưỡng được can mộc dẫn đến can âm thiếu can dương bốc lên gây Huyễn Vựng.
  2. Đờm trọc trung trở: Do ăn uống nhiều thứ bổ béo, hại đến tỳ vị, làm cho tỳ vị bị tổn thương, chức năng vận hóa bị rối loạn, thức săn đồ uống không há thành tân dịch mà biến thành đờm thấp, khiến thanh dương không thăng, trọc âm không giáng gây Huyễn Vựng.
  3. Thận tinh bất túc: Do bẩm sinh (tiên thiên bất túc) hoặc do lam lũ làm việc vất vả khiến thận tinh bị tiêu hao, tủy thiếu không nuôi dưỡng được cho não, mà theo YHCT Não là bể của Tủy.
  4. Khí huyết đều hư: Do bệnh lâu ngày không khỏi, hao tổn khí huyết, sau khi mất máu, bệnh chưa hồi phục, hoặc do Tỳ vị hư nhược không vận hóa được thức ăn để sinh ra khí huyết, dẫn đến khí huyết đều hư. Khí hư thì thanh dương yếu không lên được não, Huyết hư thì não không được nuôi dưỡng đều gây chứng chóng mặt.

Như đã bàn ở trên, bệnh Huyễn Vựng thường có chuyển hóa  và tác động qua lại lẫn nhau như thận tinh thiếu là thuộc âm hư, âm hư lại tổn thương đến dương, sẽ chuyển đến dương hư. Như đờm trọc trở ngại ở bên trong, gây nên thấp đờm lâu ngày hóa hỏa, thành đờm hỏa nung nấu ở trong. Mất máu nhiều khiến khí theo huyết cũng mất sẽ dẫn đến bạo thoát (tự vong)

Biện chứng luận trị Thiểu năng tuần hoàn não

1. Can dương thượng cang:

Triệu chứng: chóng mặt, choáng đầu, ù tai, đầu có lúc đau căng, khi tức giận thì đau tăng, có lúc đỏ mặt do dương thăng, hay cáu gắt, tức giận, ngủ ít hay mơ, miệng đắng, lưỡi đỏ, mạch huyền là biểu tượng của dương cang.

Phép chữa: Bình can tiềm dương, thanh hỏa tức phong

Phương thuốc: Thiên ma cầu đằng ẩm gia giảm (tạp bệnh chứng trị Tân Nghĩa)

Thiên ma 8g Chi tử 12g
Câu đằng 12g Hoàng cầm 10g
Đỗ trọng 10g Tang ký sinh 12g
Thạch quyết minh 20g Dạ giao đằng 10g
Ngưu tất 12g Bạch thược 16g
Phục thần 12g Ích mẫu thảo 12g
Trân châu mẫu 12g

Phân tích bài thuốc:

Trong bài dùng Thiên ma, Câu đằng, Thạch quyết minh để bình can tiềm dương.

Hoàng cầm chi tử để thanh can hỏa.

Tang ký sinh để bổ can thận.

Dạ giao đằng, Bạch linh để dưỡng tâm an thần, gia Bạch thược, Trân châu mẫu để hỗ trợ tác dụng bình can tiềm dương.

Nếu lưỡi đỏ, mạch huyền là can dương thịnh gia: Sinh địa, Nữ trinh tử để dưỡng Can âm.

Nếu ban đầu miệng đắng, lưỡi đỏ, mắt đỏ mạch huyền sác gia: Long đởm thảo, hạ khô thảo, đan bì để thanh can tiết nhiệt.

Bệnh nặng, buồn nôn, chân tay tê cứng, run rẩy gia Quy bản, Mẫu lễ, Từ thạch để tiềm dương tức phong.

Khi bệnh đã tạm ổn thì uống nên thường xuyên uống bài Câu kỷ địa hoàng hoàn để bổ thận, dưỡng Can, duy trì kết quả lâu dài.

2. Đờm trọc trung trở

Triệu chứng: Đầu choáng váng và nặng nề, hông bụng đầy buồn, buồn nôn, ăn ít ngủ ly bì, lưỡi trắng, mạch nhu hoạt.

Phân tích: Đờm trọc bốc lên nhiễu phần dương, nên đầu choáng quay đảo. Ở trung tiêu không giáng khí, khí không lợi nên hông bụng đầy buồn, buồn nôn, ăn ít, mệt mỏi, ngủ ly bì, lưỡi nhợt nhạt, mạch nhu hoạt đều do đờm trọc úng trệ, thanh dương không thanh.

Phép chữa: Táo thấp tiêu đờm, kiện tỳ hòa vị

Bài thuốc: Bán hạ bạch truật thiên ma thang gia giảm (y học tâm ngộ)

Bán hạ 8g Bạch truật 12g
Trần bì 8g Thiên ma 8g
Phục linh 12g Sinh khương 3g
Camthảo 4g Đại táo 3 quả

Phân tích bài thuốc:

Bán hạ, trần bì, Bạch linh,Camthảo để hóa thấp trừ đờm.

Bạch truật kiện tỳ táo thấp hợp với Thiên ma để khủ thấp hóa đờm trừ huyễn Vựng.

Hông bụng đầy buồn ăn ít gia: Bạch đậu khấu để hóa trọc khai vị.

Tai ù thêm: Thạch xương bồ, Thông bạch để thông dương khai khiếu.

Nếu đầu nặng, mắt căng, buồn phiền, giật mình, hoảng hốt, miệng đắng là đờm trọc hóa hỏa, cách chữa là Thanh nhiệt hóa đờm, hòa vị giáng nghịch nên dùng bài Hoàng liên ôn đởm thang gia giảm (Ôn đởm thang là Nhị trần thêm chỉ thực trúc nhự và hoàng liên).

3. Thận tinh bất túc

Triệu chứng:

Váng đầu, mệt mỏi, hay quên, lưng mỏi đau, gối mỏi yếu, tai ù, mất ngủ, đi tinh, chân tay lạnh, lưỡi nhạt, mạch trầm tế.

Nếu thiên về âm hư thì lòng bàn tay, bàn chân nóng, lưỡi đỏ mạch tế, sác.

Nếu thiên về dương hư thì chân tay lạnh, lưỡi bệu, mạch trầm tế.

Phân tích:

Thận là nơi tàng tinh và tủy bị thiếu không cung cấp lên não gây nên huyễn vựng, mờ mịt hay quên. Thận chủ cốt, Lưng là phủ của thận, Thận hư nên thấy buồn mỏi. Thận quan không vững nên có di tinh, Thận khai khiếu ra tai, Thận hư nen tai ù, tai kêu. Thiên về dương hư thì dương hư sinh hàn nên chân tay lạnh, lưỡi nhợt, mạch trầm tế là do dư âm. Thiên về âm hư, thì âm hư sinh nội nhiệt nên lòng bàn tay ấm nóng, lưỡi đỏ, mạch tế sác.

Pháp điều trị:

Thiên về dương hư thì bổ thận, trợ dương

Thiên về âm hư thì bổ thận, tư âm

Bài thuốc:

Thể Thận dương hư: Bài Hữu Quy Hoàn (Cảnh nhạc toàn thư)

Thục địa 160g Đương quy 80g
Sơn dược 80g Thỏ ty tử 80g
Sơn thù 40g Phụ tử 20g
Kỷ tử 80g Nhục quế 20g
Đỗ trọng 80g Lộc giác giao 80g

Tán bột làm hoàn. Ngày uống 16-20g

Phân tích bài thuốc:

Quế nhục, Phủ tử, Lộc giác giao để ôn bổ thận dương, ích tinh tủy.

Thục địa, Sơn dược, Sơn thù, Kỷ tử, Thỏ ty tử để tư âm, dưỡng Can, bổ Tỳ, Đương quy để bổ huyết.

Thể Thận âm hư: Bài Tri bá địa hoàng hoàn (Tiểu nhi dược chứng trực quyết)

Đan bì 120g Hoàng bá 80g
Thục địa 320g Tri mẫu 80g
Trạch tả 120g
Hoài sơn 160g
Bạch linh 120g

Tán bột làm hoàn. Ngày uống 12-16g

Phân tích bài thuốc: Lục vị để tư bổ Can Thận, Hoàng bá, Tri mẫu để chế hỏa.

Nếu huyễn vựng nặng chóng mặt đau đầu: Thêm Long Cốt, Mẫu lễ, Thạch quyết minh để tiềm dương.

4. Khí huyết đều hư:

Triệu chứng:

Chóng mặt, hoa mắt, sặc mặt nhợt, miệng nhạt, hòi hộp, mất ngủ, mệt mỏi, biếng nói, chán ăn, lưỡi nhợt, mạch Tế nhược.

Phân tích: Do khí huyết thiếu, Não không được nuôi dưỡng nên gây chóng mặt, nặng thì ngã quay. Huyết hư không lưu thông được toàn thân nên sắc mặt và người nhợt nhạt. Huyết thiếu không nuôi dưỡng đủ cho tâm nên hồi hộp, giật mình, ngủ kém. Tỳ vị vận hóa, thu nạp thất thường nên kém ăn, mạch tế nhược là biểu hiện của khí huyết suy kém.

Phép chữa: Bổ dưỡng khí huyết, kiện vẫn tỳ vị.

Bài thuốc 1: Quy tỳ thang gian giảm

Hoàng kỳ 12g Long nhãn 12g
Đương quy 12g Viễn chí 08g
Đẳng sâm 16g Táo nhân 08g
Bạch truật 12g Mộc hương 06g
Phục thần 08g Đại táo 12g

Phân tích bài thuốc:

Trong bài Quy tỳ có bài “Tứ quân tử thang” (Sâm linh truật thảo) để bổ khí, kiện tỳ. Và bài “Đương quy bổ huyết thang” (Đương quy + Hoàng kỳ) để bổ khí huyết. Kết hợp Táo nhân, Long nhãn, để dưỡng tâm, an thần. Viễn chí để giao thông tâm thận và định chí ninh Tâm. Mộc hương Lý khí tỉnh tỳ. Sinh khương, đại táo điều hòa tỳ vị.

Gia giảm:

Nếu thiên về hư hàn chân tay lạnh, ỉa chảy thì gia thêm: Nhục quế, Can khương để ôn trung trợ dương

Nếu mất máu nhiều, khí theo huyết thoát, chân tay lạnh, đổ mồ hôi, mạch vi nhược, nhanh, phải hồi dương cứu thoát, dùng bài Sâm phụ Long Lệ thang gia giảm. Bệnh nhận thuyên giảm lại theo phương pháp trên điều trị tiếp

Bài thuốc 2: Thập toàn đại bổ (cục phương)

Nhân sâm 8g Địa hoàng 15g
Phục linh 8g Bạch thược 8g
Bạch truật 10g Xuyên khung 5g
Camthảo 5g Đương quy 10g
Hoàng kỳ 15g Nhục quế 8g

Phân tích bài thuốc:

Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Phục linh,Camthảo, Nhục quế để bổ tỳ, ích khí, ôn dương.

Địa hoàng, Bạch thược, Đương quy, Xuyên khung để bổ huyết dưỡng tâm, can huyết.

Châm cứu:

Huyệt chính: Ế phong, Nội quan, Phong trì, Thái xung, Thính cung

Đờm thấp gia thêm: Túc tam lý, Trung quản, Phong long

Thận suy, phong dương bốc lên gia: Thái khê, An miên

Khí huyết hư thêm: Cách du, Huyết hải.

Kích thích vừa mạnh vê kim kiên tục 10-30 phút, ngày châm 1 lần, 5-7 ngày là 1 liệu trình.

Phân tích phương huyệt:

Phong trì, Thái xung để thanh tức phong dương

Ế phong, thính cung để sơ điều kinh khí ở tai

Nội Quan để điều hòa vị, cầm nôn

Túc Tam lý, Trung quản, Phong long để kiện vận Tỳ vị, khứ đờm trọc.

Thái khê để bổ thận

An miên để an thần

Chế độ sinh hoạt:

Nên tập nằm thư giãn để tăng cường khả năng ức chế, giữ tâm tĩnh thư thái, tránh các kích thích tâm lý, căng thẳng, cáu giận, lo nghĩ …

Nên ăn uống thanh đạm, tránh đồ cay nóng, ngọt béo

Tránh phòng dục quá độ để bảo tồn tinh khí

Lời kết:

Nguyên nhân của Thiểu năng tuần hoàn não hay còn gọi chứng Huyễn Vựng là do Phong, Hỏa, Đờm và Hư. Có khi xuất hiện đơn độc, có khi xuất hiện cùng nhau. Khi gặp bệnh nên xem xét kỹ để có phương pháp điều trị.
Bệnh cấp thì thuộc thực, trước phải thanh hỏa, hóa đờm, bình can, tiềm dương, tức phong. Bệnh hoãn phần nhiều là thuộc hư, cần phải bổ dưỡng khí huyết, bổ ích Can Thận kiện Tỳ và kèm theo những vị thuốc tức phong hóa đờm. Lựa chọn phương pháp chính xác, sau khi bệnh ổn thì lại điều trị tận gốc.

 

Chú ý:

Bạn có bị trong các thể bệnh trên không?
Bạn có thể tìm hiểu nguyên nhân gây nên tình trạng thiểu năng tuần hoàn não, bạn có thể liên hệ phòng khám Hoàn Xuân Đường để được khám và chẩn đoán cũng như từ đó bác sĩ sẽ quyết định việc điều trị như thế nào là tốt nhất cho bạn.

Thiểu Năng Tuần Hoàn Não

Trackbacks

  1. [...] chứng: Đại tiện bí kết, choáng đầu, thỉnh thoảng chóng mặt, hồi hộp, mặt nhợt, lưỡi nhợt, mạch [...]

  2. [...] chứng: Tim hồi hộp, choáng váng, sắc mặt kém tươi, móng chân tay nhạt, tay chân khôngcó sức, chất lưỡi đỏ [...]

Speak Your Mind

*