Chữa đau nửa đầu bằng yhct

CHỮA ĐAU NỬA ĐẦU BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN

Đau nữa đầu còn gọi là migraine bao gồm những cơn đau kịch phát, tái diễn không theo chu kỳ nhất định, thường kèm theo những rối loạn về thị giác và rối loạn tiêu hóa. Đau nữa đầu là một cơn bệnh khó chịu đang hành hạ khoảng 20% dân số nhân loại, không phân biệt giới tính, nguồn gốc, tuổi tác. Bệnh đặc biệt trầm trọng đối với những phụ nữ ở độ tuổi 20 đến 40.

Triệu chứng:

Bệnh nhân thường trải qua một giai đoạn suy sụp về tinh thần, buồn phiền, bứt rứt, biếng ăn, hoa mắt, buồn nôn. Những triệu chứng này có thể xảy ra liền trước cơn nhức đầu hoặc đồng thời với những cơn nhức đầu. Trong khi nhức đầu, bệnh nhân thường thấy buồn nôn, sợ ánh sáng, sợ tiếng ồn, sợ những kích thích và muốn được yên tĩnh. Cơn nhức đầu xảy ra ở một bên đầu, bên phải hoặc bên trái và thường chỉ xảy ra ở một bên đó đối với mỗi bệnh nhân. Hãn hữu ở một số rất ít bệnh nhân cơn nhức đầu có thể xảy ra ở bên đối diện hoặc nhức cả hai bên.

Khi cơn nhức đầu xảy ra, các mạch máu ngoại biên ở vùng đầu có liên quan thường nổi rõ lên. Những khảo cứu của y học hiện đại cho thấy biên độ của sóng mạch gia tăng . Điều này phù hợp với hiện tượng mạch của bệnh nhân chuyển từ trầm huyền hoặc trầm tế sang thành huyền khẩn hoặc phù huyền sác lúc cơn đau dữ dội nổi lên. Một số nhà khoa học cho rằng những bệnh nhân đã bị đau nữa đầu nhiều năm thường dẫn đến áp huyết cao và tổn thương thận . Kết quả này cũng phù hợp với những lý luận về hư hỏa và âm hư của y học cổ truyền.

Thông thường ở bệnh đau nữa đầu, dù trong cơn đau hay sau cơn đau người bệnh đều cảm thấy đau nhói nếu bị ấn nhẹ vào hai huyệt phong trì đồng tử liêu. Phong trì ở phía sau tai, chỗ lõm ở ngang chân tóc. Đồng tử liêu nằm ở chỗ hõm ở bờ ngoài đuôi mắt. Cả hai huyệt vị này đều nằm trên kinh Túc Thiếu Dương Đởm.

Biện chứng:

Theo nội kinh “Can khai khiếu ở mắt“, huyền là mạch của Can Đởm. Vùng và huyệt vị bị tổn thương do kinh Túc Thiếu Dương Đởm chi phối. Do đó, ở bệnh nhân đau nữa đầu, triệu chứng quá vượng của Can Đởm rất rõ nét. Can âm , Can dương xung gây ra một số triệu chứng Can Đởm hỏa thịnh thuộc dương chứng. Biếng ăn, buồn nôn là do Can Đởm ( thuộc mộc) khắc Tỳ Vị (thuộc thổ) dẫn đến rối loạn tiêu hóa. Đây là một biểu hiện mà y học cổ truyền gọi là Can phạm Vị. Theo học thuyết kinh lạc, Dương phải thường giáng và Âm phải thường thăng. Trường hợp này, kinh khí ở kinh Túc Thiếu Dương Đởm đã nghịch chuyển gây ra những dấu hiệu đặc trưng của thiếu dương chứng. Đó là đau đầu, hoa mắt, buồn nôn. Thiếu dương chứng thường được xem là những chứng bán biểu bán lý. Tuy nhiên, bệnh đã lâu, can huyết bị tổn thương nên thiên về . Hỏa đây là hư hỏa do âm hư mà ra.

Điều trị:

Trong bát pháp của y học cổ truyền thì phép hòa giải là phương pháp đối trị với những bệnh ở kinh thiếu dương nhằm sơ tiết can khí, giải biểu và điều hoà Can Tỳ. Đây là một bệnh mãn tính nên một điều quan trọng khác là phải bổ âm để tàng dương. Tuy nhiên trong bổ âm phải lưu ý đến kiện Tỳ vì những thuốc bổ âm tính mát có thể làm trệ Tỳ trong khi ở đây Tỳ Vị vốn đã suy yếu.

Bài thuốc:

Tiêu dao thang là một cổ phương có tác dụng hòa giải thường được dùng để chữa nhức đầu ở kinh Thiếu Dương. Thang dược này cũng thường được dùng để chữa những chứng bệnh suy nhược thần kinh, kinh nguyệt không đều, biếng ăn, khó ngủ, hay căng thẳng cáu gắt, đau tức hai hông sườn. Bài thuốc gồm: Sài hồ, Bạc hà, Sinh khương để sơ tiết Can khí, thư giải tà khí ở kinh lạc; Đương qui, Bạch thược để dưỡng huyết; Bạch linh, Bạch truật, Cam thảo để kiện Tỳ hòa Vị.

Sài hồ 12 gr Bạch thược 12 gr

Đương quy 12 gr Bạch truật 12 gr

Phục linh 12 gr Bạc hà 4 gr

Cam thảo 4 gr Sinh khương 4 gr

(nướng qua)

Riêng vị Bạc hà phải bỏ vào sau cùng khi sắp lấy thuốc ra khỏi bếp. Sắc ba chén còn lại hơn nữa chén, uống thuốc lúc còn nóng. Chỉ cần uống một hoặc vài thang trước khi dùng những thang bổ âm ở phần sau.

Lý Âm Tiễn là một cổ phương có tác dụng bổ âm dưỡng huyết. Thục địa để bổ âm, Đương quy dưỡng huyết, Cam thảo hòa trung, Can khương sao đen, tẩm đồng tiện để liễm nạp dương khí ở trung và hạ tiêu, trừ hư hỏa.

Thục địa 16 gr

Đương quy 12 gr

Can khương 8 gr (sao ngoài đen, ruột ở giữa còn vàng, sao xong tẩm đồng tiện)

Cam thảo 4 gr (nướng)

Sắc ba chén còn lại gần một chén, chia làm hai lần uống trong một ngày, uống lúc thuốc còn nóng.

Tập Dương án của Hải Thượng Lãn Ông có ghi lại một phương thuốc đã chữa thành công cho một bệnh nhân nữ 34 tuổi bị nhức đầu trên 8 năm mà ông đã chẩn đoán là nhức đầu do âm hư khí uất.

Thục địa 320 gr Ngưu tất 80 gr

Đương quy 240 gr Ngủ vị 40 gr

Xuyên khung 120 gr (sao, tẩm đồng tiện)

Đây là một thang đại dược có phân lượng lớn, sắc đặc, chia ra uống làm vài lần trong một ngày. Y án có ghi rõ cách uống cho bệnh nhân nói trên. Uống sau khi đã làm việc được một lúc cho người nóng lên. Đối với người bệnh còn tương đối khỏe mạnh, cách uống này nhằm lợi dụng dương khí của người bệnh đang được phát động khi đang làm việc phối hợp với sức thuốc còn nóng để phát tán tà khí ở kinh lạc mà không cần những vị thuốc để giải biểu. Trong bài thuốc này Thục địa để bổ âm, Đương quy để dưỡng huyết, Xuyên khung để khai uất, sơ tiết Can khí, tẩm đồng tiện để giáng hư hỏa, Ngưu tất dẫn thuốc trở xuống, Ngủ vị để liễm nạp dương khí.

Thuốc Nam:

Rau má 12 gr Hương phụ 8 gr (sao, tẩm đồng tiện)

Thảo quyết minh 12 gr (sao thơm) Vỏ bưởI 8 gr (phơi khô, sao)

Rễ nhàu 12 gr

Sắc ba chén còn lại gần một chén chia làm hai lần uống trong một ngày. Uống lúc thuốc còn nóng.

Trong bài này, Rau má, Thảo quyết minh để bổ âm dưỡng huyết. Vỏ bưởi, Hương phụ để sơ Can, khai uất, kiện Tỳ. Rễ nhàu có thể thông kinh hoạt lạc và điều hòa thần kinh giao cảm nên rất hiệu quả trong những chứng nhức đầu.

Điều trị không dùng thuốc:Theo y học cổ truyền, mỗi loại cảm xúc âm tính dẫn đến tổn thương một loại khí nhất định trong cơ thể con người, chẳng hạn “Tư thương Tỳ”, “Khủng thương Thận”, “Nộ thương Can”. Tuy nhiên bất cứ một cảm xúc âm tính nào tác động lâu ngày đều ảnh hưởng đến Can khí, dẫn đến Can khí uất. Can khí uất là một đặc trưng của bệnh đau nữa đầu. Do đó những cảm xúc âm tính nói chung – còn gọi là “stress” – có liên quan chặt chẽ đến cơn đau nữa đầu. “Stress” có thể là yếu tố kích hoạt hoặc làm trầm trọng thêm những cơn đau. Ngược lại, những biện pháp làm thư giãn thần kinh & cơ như tập dưỡng sinh, luyện thở, ngồi thiền… sẽ trực tiếp hóa giải “stress” và làm sơ tiết Can khí nên có thể làm thưa dần, làm nhẹ đi, và cuối cùng làm chấm dứt hẳn những cơn đau nữa đầu. Ngoài ra, theo quy luật “thần tĩnh tất âm sinh“, việc thư giãn, nhập tĩnh không những làm thư giãn khí uất mà còn có tác dụng sinh âm, bổ âm, nên đáp ứng được yêu cầu thứ hai của việc điều trị bệnh đau nữa đầu

Điều trị các chứng đau ở đầu mặt bằng thuốc Đông y

Đầu ở vị trí cao nhất trong thân người. Khí thanh dương của tạng phủ dâng lên đầu, ba kinh dương ở tay và ba kinh dương ở chân đều gặp nhau trên đầu, mạch Đốc – tổng quản phần dương thân thể cũng đi đến đỉnh đầu. Vì vậy mà Đông y cho rằng đầu là nơi hội tụ của các phần dương.

Do đầu ở vị trí cao và thuộc dương, trong các nguyên nhân gây bệnh trong – ngoài (nội nhân, ngoại nhân) có phong tà và hoả khí  rất dễ gây ra các bệnh ở bộ phận đầu, bởi vì tính của hoả bốc lên và trên đỉnh đầu chỉ có phong tà  mới có thể đến được. Lại do nội tạng suy yếu, thanh khí không thăng, hoặc gió lạnh xâm nhập, dương khí uất trệ đều làm xuất hiện chứng đau đầu do hư hàn.  Ngoài ra, não là bể tuỷ (não vi tuỷ hải), nếu không đầy đủ thì ảnh hưởng đến tinh lực toàn thân. Sắc diện bộ mặt cũng phản ánh được tình hình biến hoá của bệnh tật trong cơ thể.  Vì vậy, Chương này bao quát các chứng đau đầu do các nguyên nhân phong hàn, phong nhiệt, phong thấp, can dương, thận hư, huyết hư, đàm trọc, huyết ứ dẫn đến, ngoài ra còn có các chứng đau sưng đầu mặt, đau nửa đầu, đau gờ chân mày, sưng quai bị, đau đỉnh đầu (cả thẩy 13 chứng).  Trên lâm sàng cần nắm rõ các chủ chứng, phân biệt rõ nguyên nhân trong – ngoài mới tiến hành trị liệu.

Theo Tây y, chứng đau đầu có thể xuất hiện trong các bệnh chủ như cao huyết áp, viêm xoang mũi, thần kinh chức năng, di chứng chấn động não… đều có thể tham khảo điều trị.

 

1. Đau đầu do phong hàn

Phong hàn thâm nhập thể biểu (bề ngoài) khiến dương khí bảo vệ mặt ngoài bị ngăn cách, kinh mạch trở ngại, khí thanh dương không thăng lên, khí huyết ngưng trệ mà phát sinh đau đầu. Điều trị dùng phép sơ phong tán hàn.

- Chủ chứng: Đau đầu phát tác liên tục, đau lan ra cổ gáy, sợ gió, sợ lạnh. Gặp gió đau tăng, thích trùm kín đầu, miệng không khát, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch Phù hoặc Phù – Khẩn.

- Trị liệu: Xuyên khung trà điều tán gia giảm: Xuyên khung 10g, Khương hoạt 5g, Kinh giới 6g, Phòng phong 6g, Bạch chỉ 6g, Tế tân 3g, Mạn kinh tử 10g, Cam thảo 6g.  Sắc lấy nước uống.

 

2. Đau đầu do phong nhiệt

Phong nhiệt bên ngoài xâm nhập vào, da thịt không được thư thái thoải mái, tính của hoả ưa bốc lên, khuấy động các khiếu ở trên, khí huyết nghịch loạn mà dẫn đến đau đầu.  Điều trị dùng phép sơ phong thanh nhiệt.

- Chủ chứng: Đầu đau trướng căng, thậm chí như búa bổ, phát sốt, sợ gió, mặt hồng, mắt đỏ, miệng khát muốn uống nước, táo bón, nước tiểu đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch Phù – Sác.

- Trị liệu: Khung chỉ thạch cao thang gia giảm: Sinh thạch cao 30g, Cúc hoa 9g, Xuyên khung 9g, Bạc hà 6g, Mạn kinh tử 10g.  Sắc uống.

Nếu đại tiện bí kết, miệng mũi sinh lở loét do khí các tạng phủ không thông, cần thông phủ tiết nhiệt bằng các thuốc đắng lạnh giáng hoả, nên gia thêm Đại hoàng 10g, Hoàng liên 10g vào bài thuốc trên.

 

3. Đau đầu do phong thấp

Phong thấp từ ngoài xâm nhập vào làm dương khí bị ngăn trở, che phủ các khiếu ở trên, khí thanh dương không thăng lên được gây nên chứng đau đầu. Điều trị dùng phép khu phong thắng thấp.

- Chủ chứng: Đau đầu như bưng, tay chân mình mẩy nặng nề khó chịu, ngây ngây bức rức trong ngực, tiểu tiện không thông, đại tiện nhão nhoẹt, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch Nhu.

- Trị liệu: Khương hoạt thắng thấp thang gia giảm: Khương hoạt 10g, Độc hoạt 6g, Xuyên khung 10g, Mạn kinh tử 10g, Phòng phong 10g, Cảo bản 6g, Bạch chỉ 6g, Tế tân 3g. Sắc uống.

 

4. Đau đầu do can dương

Do tình chí bất hoà, can mất khả năng điều đạt, can khí uất kết, khí uất hoá hoả, lâu ngày hao tổn tân dịch, can âm bất túc, can mất tính nhu nhuận ẩm thấm; hoặc do phòng lao thương tinh, thận thuỷ bất túc, thuỷ không hàm dưỡng được mộc, khiến cho can thận âm khuy tổn, cả hai trường hợp trên đều dẫn tới can dương thượng cang (mạnh vượt lên).  Đông y cho rằng can tạng thuộc phong mộc, tính hoả bốc lên, phong hoả gặp nhau thì bùng cháy, quấy nhiễu các cơ quan bên trên gây nên đau đầu thể can dương.  Điều trị nên bình can tiềm dương.

- Chủ chứng: Đau đầu, hoa mắt, đau xiết kéo dài, đau thiên về hai bên hoặc đau xiên lên đỉnh đầu, hay buồn bực dễ cáu giận, ngủ không an giấc, mặt hồng, mắt đỏ, miệng đắng, có khi đau cả hông sườn, lưỡi hồng, rêu vàng mỏng, mạch Huyền hoặc Huyền – Sác.

- Trị liệu: Thiên ma câu đằng ẩm gia giảm: Thiên ma 10g, Câu đằng 12g, Sinh thạch quyết minh 15g, Sinh long cốt 15g, Sinh mẫu lệ 15g, Sơn chi 10g, Long đởm thảo 12g, Cúc hoa 10g, Đỗ trọng 12g, Hoài ngưu tất 12g, Phục thần 10g. Sắc uống.

 

 

ĐẦU  ĐAU

( HEADACHE )

. Cũng gọi là Đầu Phong , Đầu Thống, Não Phong .

. Đầu đau chỉ là chứng trạng của nhiều bệnh về Đầu, Não, Tai, Mũi, Họng …vì vậy cần biện chứng rõ để điều trị cho thích hợp.

A – ĐẦU ĐAU DO NGOẠI CẢM

Loại PHONG HÀN PHONG NHIỆT PHONG THẤP
Chứng Sốt, sợ gió, đầu đau, cổ gáy đau, không khát, rêu lưỡi  trắng mỏng, mạch Phù Khẩn. Sôt, đầu đau dữ dội, mặt đỏ, khát, nước  tiểu vàng, táo bón, lưỡi và rìa lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch Sác. Đầu đau , có cảm giác nặng như bị đè, cơ thể nặng nề, ngực khó chịu, biếng ăn, rêu lưỡi trắng nhạt, mạch Nhu.
Điều Trị Sơ phong, Tán hàn. Khu phong, Thanh nhiệt. Khu  phong , Trừ  thấp.
Phương Dược Xuyên Khung Trà Điều Tán Gia Giảm [6] Khung Chỉ Thạch Cao Thang Gia Giảm [2] Khương Hoạt Thắng Thấp Thang Gia Giảm [3]
Châm Cứu Đại chùy (Đc.14),Phong phủ (Đc.16),Liệt khuết (P.7). Phong phủ (Đc.16),Phong trì ( Đ.20),Ngoại quan (Ttu.5),Thái dương (Nk) . Phong phủ (Đc.16),Đại chùy (Đc.14),Đầu duy (Vi.8),Phong long (Vi.40),

Âm lăng tuyền  (Ty.9)

Tam âm giao (Ty.6).

B-  ĐẦU ĐAU DO NỘI THƯƠNG .

Loại Can Dương Vượng Đàm Trọc Huyết Ứ
Chứng Đầu đau, chóng nặt,  tâm phiền , dễ tức giận, ngủ không yên, mắt đỏ, mệng khô, rêu lưỡi vàng mỏng  hoặc  lưỡi đỏ, rêu ít, mạch Huyền hoặc  Tế Sác . Đầu trướng đau, muốn ói, ói ra đàm dãi,  ngực đầy tức, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch Hoạt. Đầu đau, đau có chỗ nhất định, đau như kim đâm hoặc  có tiền sử bị chấn thương, va chạm… vào đầu , lưỡi có vết ban tím, mạch Tế Sáp.
Điều Trị Bình Can, Tiềm dương . Hóa đàm, Giáng nghịch. Hoạt huyết, Hóa ứ .
Phương Dược Thiên Ma Câu Đằng Ẩm Gia Giảm [4] Bán Hạ Bạch Truật Thiên Ma Thang Gia Giảm [1] Thông Khiếu Hoạt Huyết Thang Gia Giảm [5]
Châm Cứu Phong trì ( Đ.20),Hợp cốc (Đtr.4),Đại đôn (C.1),Hành gian (C.2). Trung quản (Nh.12),Phong long  ( Vi.40),Đầu duy ( Vi.8),Thái dương (Nk),

Bá hội (Đc.20),

Dương lăng tuyền  (Đ.34).

A thị huyệt,Can du ( Bq.18),Cách du (Bq.17),Túc tam lý ( Vi.36).

+ Ghi Chú :

[1] Bán Hạ Bạch Truật Thiên Ma Thang ( Tỳ Vị Luận ) : Bạch truật 12g, Bán hạ 8g, Cam thảo 4g, Phục linh 12g, Thiên ma 8g, Trần bì 8g.

[2] Khung Chỉ Thạch Cao Thang ( Trung Y Thượng Hải) : Bạc hà 6g, Bạch chỉ 8g,  Cúc hoa 8g, Hoàng cầm 8g, Thạch cao 16g, Xuyên khung 6g.

[3] Khương Hoạt Thắng Thấp Thang ( Tỳ Vị Luận) : Cảo bản 8g, Chích thảo 4g, Độc hoạt 8g, Khương hoạt 8g, Mạn kinh tử 8g, Phòng phong 8g, Xuyên khung 4g.

[4] Thiên Ma Câu Đằng Ẩm ( Tạp bệnh chứng trị tân nghĩa) : Câu đằng 12g, Dạ giao đằng 10g, Đỗ trọng 10g, Hoàng cầm 10g, Ích mẫu 12g, Ngưu tất 12g, Phục thần 12g, Sơn chi 12g, Tang ký sinh 12g, Thạch quyết minh 20g, Thiên ma 8g.

[5] Thông Khiếu Hoạt Huyết Thang ( Y Lâm Cải Thác) : Đào nhân  10g, Hồng hoa 10g, Hồng táo 10 trái, Sinh khương 10g, Thông bạch 3 củ, Xạ hương 0,16g, Xích thược 4g, Xuyên khung 4g.

[6] Xuyên Khung Trà Điều Tán  ( Cục Phương) : Bạc hà 8g, Bạch chỉ 8g, Cam thảo 4g, Khương hoạt 8g, Kinh giới 16g, Phòng phong 8g, Tế tân 4g, Xuyên khung 16g.

. Hợp cốc  Nguyên huyệt.
. Ôn lưu  Khích huyệt.
. Thiên lịch  Lạc huyệt.

 

Đau đầu là chứng bệnh phổ biến do nhiều nguyên nhân khác nhau, một trong số đó là tăng huyết áp. Đau đầu do tăng huyết áp hay gặp ở người trên 50 tuổi, nữ có xu hướng bị nhiều hơn nam, mức độ đau thường thay đổi theo chỉ số huyết áp và trạng thái tâm lý của người bệnh. Trong một số trường hợp, đau đầu còn là dấu hiệu sớm của những biến chứng do tăng huyết áp, đặc biệt là tai biến mạch máu não.

Triệu chứng

Cơn đau điển hình thường xảy ra lúc cuối đêm về sáng (khoảng 3-5 giờ sáng) kéo dài tới khi thức dậy và giảm dần khi bệnh nhân bắt tay vào hoạt động công việc. Vị trí đau thường khu trú ở vùng chẩm hoặc trán, có thể lan lên trên đỉnh đầu nhưng ít khi đau trội một bên mà thường cân đối hai bên đầu. Trong cơn đau bệnh nhân có cảm giác mỏi, cứng các cơ ở cổ gáy. Một đặc điểm nữa là phần lớn đau đầu biến đổi theo sự tiến triển của huyết áp, đau giảm đi khi huyết áp hạ và ngược lại, bên cạnh đó trạng thái tâm lý, cảm xúc cũng có ảnh hưởng đến cơn đau, đau tăng khi lo buồn căng thẳng, giảm đi khi nghỉ ngơi, thư giãn. Ngoài ra trong bệnh tăng huyết áp, đau đầu rất hiếm khi xuất hiện đơn độc mà thường đi kèm với đánh trống ngực và chóng mặt, đặc điểm cuối cùng là khi khám bệnh ngoài kết quả đo huyết áp thấy cao, người bệnh hay có rối loạn về tâm lý như xúc động quá mức, cảm xúc không ổn định, đôi khi có xu hướng trầm cảm, tuy nhiên lại không thấy các rối loạn thực thể khi khám thần kinh (trừ trường hợp huyết áp cao gây biến chứng tai biến mạch máu não)

Tiến triển của chứng đau đầu do tăng huyết áp

Phụ thuộc vào sự thay đổi của chỉ số huyết áp và trạng thái tâm lý như đã nói ở trên. Trong trường hợp huyết áp cao gây biến chứng thì đau đầu là dấu hiệu sớm và trung thành của tai biến chảy máu não: Đau đầu đột ngột, dữ dội song song với chỉ số huyết áp cao tăng vọt và những rối loạn thần kinh như mất thăng bằng, nhìn mờ hoặc mù, lên cơn co giật, yếu nửa người, rối loạn ý thức u ám hoặc hôn mê… Lúc này cần cấp cứu người bệnh càng sớm càng tốt.

Do vậy để chuẩn đoán chính xác và đề phòng những tai biến của cao huyết áp cần khám chuyên khoa tim mạch và thần kinh nếu cần thiết làm thêm một số xét nghiệm khác như điện tim, chụp X quang ngực, siêu âm tim, làm điện não, xét nghiệm sinh hoá máu…

Điều trị

Đầu tiên phải điều trị nguyên nhân gây tăng huyết áp (nếu có thể), đồng thời phải xử trí huyết áp bằng các biện pháp thích hợp. Không nên dùng các loại thuốc hạ huyết áp mạch ngay từ đầu mà dùng những liều thuốc nhẹ nếu không đỡ thì mới dùng những thuốc mạnh hơn như thuốc lợi tiểu (Lasix, Natrilix), thuốc chẹn canxi (Adalat) thuốc ức chế men chuyển (Coversyl), thuốc ức chế thụ thể Angiotesmin (Losartan)… Phối hợp với chế độ ăn nhạt, hạn chế đường mỡ, các chất kích thích như rượu bia, thuốc lá, cà phê.

Điều trị triệu chứng đau đầu trong trường hợp nhẹ chỉ cần nghỉ ngơi thư giãn cũng có thể làm giảm đau đầu, nếu biện pháp này không có hiệu quả thì có thể dùng các thuốc giảm đau thông thường như Paracetamol, Meloxicam, Celecoxib và phải phối hợp thêm thuốc an thần, chống trầm cảm như Seduxen, Amitriptylin khi có rối loạn về tâm lý.

Lưu ý tất cả các thuốc trên đều có nhiều tác dụng phụ nên khi dùng phải có chỉ định và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa.

 

Speak Your Mind

*