Giun chui ống mật

I. Y HỌC HIỆN ĐẠI

1.1. Đại cương

Giun lên ống mật là một tai biến của giun đũa ở đường ruột gây nên. Giun từ ruột lên tá tràng, chui qua cơ Oddi để vào trong ống Cholesdoque và các đường mật trong gan. Giun vào đường mật có thể sống và tồn tại ở đó một thời gian, khi chết để lại xác giun không tiêu và cơ sở của áp xe gan do giun và các biến chứng của nó.

  • Bệnh gặp ở các lứa tuổi nhưng thông thường hay gặp ở trẻ em dưới 10 tuổi.
  • Điều kiện thuận lợi: các bệnh nhân dinh dưỡng kém, thiếu đạm, gầy yếu, nhiễm trùng (sau cúm, sởi, viêm phổi) độ toan dịch vị ít.

1.2. Triệu chứng

1.2.1. Lâm sàng

* Giai đoạn sớm

  • Cơn đau bụng gan dữ dội, đột ngột. Bệnh nhân đau cạnh ức và dưới sườn phải từng cơn lăn lộn, chổng mông, trẻ em bắt bế vác lên vai
  • Nôn nhiều có khi nôn ra giun.
  • Lâm sàng có phản ứng ở dưới sườn phải, cạnh ức đau, gan và túi mật, bình thường, không vàng da, vàng mắt, tình trạng toàn thân chưa có thay đổi rõ rệt.

* Giai đoạn nhiễm trùng đường mật

Thường sau một tuần đột đau lăn lộn chỏng mông, bệnh nhân có triệu chứng nhiễm trùng toàn thân

  • Sốt dao động 38-39 độ C.
  • Ăn kém và cơn đau dịu đi, nhưng vùng dưới sườn pải đau, tức, đầy.
  • Ấn cạnh ức và dưới sườn phải đau, túi mật không căng đau.
  • Da, niêm mạc không vàng hoặc vàng nhẹ

* Giai đoạn áp xe gan.

Thường 2 – 4 tuần có dấu hiệu giun lên đường mật không được điều trị

  • Toàn thân có dấu hiệu nhiễm trùng nặng, da xanh, gầy yếu, thiếu máu.
  • Sốt cao thường xuyên 39-49 độ C, rét run, ăn uống kém.
  • Đau âm ỉ vùng gan.
  • Da niêm mạc vàng nhẹ, gan to dưới bờ sườn hoặc to lên trên, ấn rất đau, nghiệm pháp rung gan (+).

1.2.2. Cận lâm sàng.

  • Bạch cầu tăng, bạch cầu đa nhân trung tính tăng, thiếu máu rõ.
  • Tốc độc máu lắng tăng cao, nhất là giai đoạn nhiễm trùng đường mật.
  • Bilirunbin máu bình thường hoặc tăng nhẹ.
  • Chức năng gan bình thường.

1.2.3. X quang

* Chụp gan xa: Có thể thấy: gan to, cơ hoành di động kém, cơ hoành phải bị đội lên.

* chụp đường mật.

  • Có hình dị vật dài giống hình con giun không ngấm thuốc ở giữa hình ảnh mật đồ có thuốc cản quang.
  • Ống Choledoque rộng nhất là khi kèm theo sỏi ống mật chủ.

1.2.4. Siêu âm.

Có thể thấy hình ảnh gián tiếp.

  • Ống mật chủ hay ống gan giãn rộng.
  • Trong lòng ống mật chủ có hình tập trung nhiều sóng siêu âm theo một vệt dài.

1.2.5. Soi tá tràng

Thấy hình ảnh giun đũa ở tá tràng hay một phần ở tá tràng, một phần ở cơ Oddi vào ống mật hoặc ống Wirsung.

1.3. Chẩn đoán phân biệt:

1.3.1. Đau bụng giun

Dặp ở trẻ em có nhiều giun. Giun có thể lên tá – hỗng tràng gây đau giống như giun chui đường mật

1.3.2 Sỏi mật

Thường gặp người lớn, có tiền sử mổ sỏi mật,có thể có sỏi mật và giun lên đường mật. Bệnh nhân có triệu  chứng: Đau, sốt, vàng da.

1.3.3. Loét dạ dày tá tràng

Đau thường lâu năm, có chu kỳ và không có dấu hiệu nhiễm trùng

1.3.4. Viêm tụy cấp

Diễn biến lâm sàng của giun lên ống mật có thể biểu hiện bằng các dấu hiệu phù tụy cấp. Vì vậy cần phân biệt với phù tụy do các nguyên nhân khác gây nên (sỏi Oddi, sỏi tụy). Trong viêm tụy cấp chảy máu, thường gặp người béo tình trạng toàn thân rất nặng, dấu hiệu shock xuất hiện ngay từ đầu.giun chui ống mật

1.4. Điều trị

1.4.1. Nội khoa

Điều trị nội khoa ở giai đoạn đầu chưa xác định chắc có giun ở tỏng đường mật:

  • Thuốc gian cơ Oddi: Atropin, Aminazin.
  • Thuốc lợi mật và thuốc tăng tiết dịch mật.
  • Tẩy giun.

1.4.2. Ngoại khoa.

Mở đường mật để lấy giun và dẫn lưu đường mật.

GIUN CHUI ỐNG MẬT THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN

2.1. Bệnh danh

Bệnh thuộc chứng “Hồi quyết của Y học cổ truyền,

2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh.

* tạng hàn.

Kim quỹ yếu lược viết” Hồi quyết-  Hồi đi lên Cách, do tạng hàn”.

* Vị hỏa.

Cảnh Nhạc toàn thư viết: “Trường hợp do vị hỏa mà nôn ra hồi trùng là mức nặng của vị nhiệt, giun không có chổ dung thân mà phải đi ra.

*Hàn nhiệt thác tạp.

Thương hàn luận viết “Phát bệnh tiêu khát của Quyết âm, khí lên tim. Trong tim nóng đau. Đói không muốn ăn, ăn vào thì nôn ra giun, hạ lỵ không dứt.

*Ăn uống không điều độ

Y học nhập môn viết: “Người vốn ăn phải giun hoặc quá đói, giun ngược lên họng mà ra ngoài.

2.3. Biện chứng luận trị.

2.3.1. Thể hồi quyết

Tương đương với giun lên đường mật đơn thuần.

* Chứng trạng

Đau xuyên lên đỉnh đầu từng cơn, thích xoa, chi lạnh, buồn nôn, nôn, hoặc nôn ra giun, khi hết đau người bình thường, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền sác.

* Pháp điều trị

Lý khí chỉ thống, yên hồi trực tràng, công hạ.

* Bài thuốc

Ô mai hoàn (Thương hàn luận) gia giảm:

Ô mau 30g Hoàng liên 5g
Thục tiêu 6g Uất kim 30g
Mộc hương 10g Bạch thược 30g
Tân lang 15g Sử quân tử 10g
Tế Tân 3g Khổ luyện căn bì 15g
Sinh địa hoàng 10g

* Ý nghĩa bài thuốc.

“Hồi được chua thì tĩnh, được cay thì phục, được đắng thì hạ”.

Ô mai, Hoàng liên, Thục tiêu:Làm thuốc chủ, đòng thờ cả chua cay, đắng. Ô mai: làm yên trùng, tính ôn có thể làm ấm tạng khu hàn. Hoàng liên:Vị đắng làm ahj trùng, tính hàn có thể thanh nhiệt. Mộc hương, Uất kim: Hành khí chỉ thống. Bạch thược: Vị chua có thể hoãn cấp dứt đau.

Các nghiên cứu gần đây cho thấy 3 vị thuốc này có tác dụng giãn cơ Oddi rõ rệt.

Đại hoàng : Đắng hàn chìm giáng, lực mạnh thông lý công hạ.

Ô mai hoàn có tác dụng ức chế hoạt động của giun đũa một cách rõ rệt nhưng không có tác dụng trực tiếp diệt giun, do vậy trong đơn gia thêm Tân lang, Sử quân tử, Khổ luyện căn bì để sát, trực trùng. Bài thuốc có 3 tác dụng: Yên trùng, khu trùng,công hạ, sau khi uống thuốc có thể thông tà đau có thể giảm.

2.3.1. Thể thấp nhiệt

* Chứng trạng

Tương đương với giun lên đường mật và có viêm đường mật: Sốt, mạng sườn phải đau trướng, không cho sờ nắn, buồn nôn, nôn, không muốn ăn, có thể có hoàng đãn, miệng khô, đắng, đại tiện táo, tiểu tiện ít, đỏ, mạch huyền hoạt hoặc hoạt sác, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt.

* Pháp điều tị

Thanh lợi thấp nhiệt, khu trùng, thông lý công hạ

* Bài thuốc:
Nhân trần cao thang hợp Thừa khí thang (Thương hàn luận) gia giảm:

Nhân trần 30g Ngân hoa 30g
Sơn chi tử 10g Hoàng câm 10g
Lô hoàn 10g Hoa tân alang 30g
Sử quân tử 10g Chỉ thưc 10g
Xuyên phá 10g Sinh địa hoàng 10g
Mang tiêu 10g

* Ý nghĩa bài thuốc.

Nhân trần: Thanh thấp nhiệt, lợi đởm. Chi tử: Thanh nhiệt của tam tiêu, tả hỏa của Can đởm. Ngân hoa, Hoàng cầm: Tăng cường công dụng thanh nhiệt. Lô hội, Tân lang, Sử quân tử: Khu trùng. Đại hoàng: Đắng tả nhiệt thông tiện. mang tiêu: mặn, hàn, tả, nhiệt, nhuyễn kiên, thông tiện. Chỉ thực, hậu phác: Tiêu bĩ trừ đầy, phá khí tán kết.

2.3.3. Thể hỏa độc

Viêm đường mật hóa mủ, có triệu chứng tắc mật.

* Chứng trạng

Sốt cao, rét run, hoàng đản, bụng trướng đau không cho sờ, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ sẫm,rêu lưỡi vầng khô, mạch hoạt sác hoặc tế sác vô lực.

* Pháp điều trị

Thanh nhiệt, thư loan hoãn cấp, sinh tân chỉ khát, kết hợp với Y hoạc hiện địa. Phẫu thuật khi có chỉ định

2.3.4. Thể ứ trệ

Giun đũa chết ở đường mật

* Chứng trạng

Vùng hạ sườn phải đau trướng, sau khi ăn đau tăng, có thể có sốt nhẹ, buồn nôn, ăn kém, chất lưỡi đỏ tối, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch trầm huyền..Triệu chứng lâm sàng hết nhưng trến siêu âm hoặc X quang đường mật có hình ảnh của giun đũa lưu lại.

* Pháp điều tị

Thư can giải uất, lợi đởm bài trùng.

* Bài thuốc.

Sài hồ sơ can thang (Cảnh nhạc toàn thư) gia giảm.

Sài hồ 10g Chỉ xác 10g
Bạch thược 15g Hương phụ 10g
Xuyên khùn 10g Chích Cam thảo 3g
Kho phàn 3g Nhân trần 15g
Kim tiền thảo 30g Sinh mẫu lệ 30g
Chế đại hoàng 10g Trần bì 10g

* Ý nghĩa bài thuốc.

Sài hồ, Chỉ xác, Hương phụ, Trần bì: Sơ can hành khí chỉ thống, lợi đởm. Bạch thược, cam thảo: Hoãn cấp chỉ thống, lợi mật. Xuyên khung: cay tán hoạt huyết hóa ứ. Mẫu lệ: Vị mặn để nhuyễn kiên phối hợp với Khô phàn chua sáp thu liễm táo hóa tùng. Nhân trần, Kim tiền thảo: Thanh lợi thấp nhiệt, lợi đởm. Đại hoàng: thông hạ để bài giun ra khỏi cơ thể.

2.3.5. Phương thuốc khác

* Châm cứu: Huyệt: Túc tam lý, Dương lăng truyền, Nội quan, Thái xung.

* Nhĩ châm: Huyệt giao cảm, Thần môn, Can, Đởm.

* Dấm ăn 100g: cho thêm một lượng nước thích hợp lắc đều uống.

* Dấm ăn 100g: cho vào một ít Hoa tiêu nấu sôi, bỏ bã Hoa tiêu để âm uống.

2.4. Phòng bệnh

  • Ăn uống vệ sinh đề phòng nhiễm giun đữa.
  • Tẩy giun có hiệu quả khi đã có nhiễm giun.

Chữa rò hậu môn

RÒ HẬU MÔN THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI

Rò hậu môn là hình thái bệnh lý cấp tính hay mạn tính, có nguồn gốc nhiễm khuẩn Hermann và tuyến Desfosses gây ra một ổ áp xe nằm trong khoang liên cơ thắt, có đường thông từ ổ mủ vào lòng ống hậu môn, đồng thời có một đường hoặc nhiều nhánh xuyên qua các cơ tthắt mở ra ngoài da hình thành rò hậu môn. Thực chất rò hậu môn là giai đoạn tiếp theo của áp xe quanh hậu môn tự vỡ hoặc điều trị không triệt để.Rò hậu môn

Rò hậu môn điển hình bao giờ cũng có 3 bộ phận chính:

  • Lỗ trong (Lỗ nguyên thủy).
  • Đường rò.
  • Lỗ ngoài.

Bệnh hay gặp ở cả nam và nữ, thường ở độ tuổi trung niên, là một trong những bệnh hay gặp ở vùng hậu  môn, rò hậu môn đứng hàng thứ 4 trong cơ các bệnh hậu môn trực tràng.

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Ổ mủ do nhiễm khuẩn đường ruột là chủ yếu chiếm 90%, do lao động, 9% lậu, giang mai ít gặp hơn.

Cận lâm sàng

  • Thông thường đợt cấp bạch cầu tăng cao, máu lắng cao, cấy khuẩn làm kháng sinh đồ để xác định chủng vi khuẩn gây bệnh.
  • Chụp phổi kiểm tra tổn thương lao giúp cho chẩn đoán nguyên nhân và chỉ định điều trị.
  • Chụp X quang có thuốc cản quang để xác định đường rò. Cần thiết có thể sinh thiết làm giải phẫu bệnh lý.

Chẩn đoán phân biệt

Điều trị

  • Rạch mở dẫn lưu đường rò.
  • Cắt bỏ đường rò.
  • Cắt bỏ đường rò và cắt bỏ một phần cơ thắt.Điểu trị rò hậu môn

CHỮA RÒ HẬU MÔN THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN.

1. Bệnh danh.

Giang lậu. (dân gian còn gọi là bệnh mạch lươn hậu môn)

2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh.

Sau khi nhọt ở hậu môn vỡ, dư độc chưa hết, ngăn kết không tan, khí huyết ứ trệ không thông, hoặc do tỳ phế đều hư, thấp nhiệt uất kết ở đại trường. Hoặc do phong, thấp, táo nhiệt tứ tà tương hợp kết tụ thành độc, phát thành sang lậu. Dựa vào nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh mà chia thanh 2 thể: thực chứng và hư chứng.

Theo Y học cổ truyền: việc nghiên cứu điều trị rò hậu môn đã được Y học cổ truyền quan tâm từ rất sớm, cho đến nay nhiều bài thuốc, nhiều thủ thuật chữa trị vẫn còn nguyên giá trị của nó trên nguyên lý điều trị toàn diện (tiêu bản đồng trị).

3. Chứng trạng

* Chảy mủ.

  • Thực chứng: mủ vàng, đặc, nhiều, nặng mùi, phần lớn do thấp nhiệt, uất trệ, nhiệt thịnh nung nấu gây thối rữa cơ nhục thành mủ.
  • Hư chứng: mủ ít, chất loãng hoặc mủ vón trắng chủ yếu do khí huyết hư, thấp nhiệt hạ trú.

* Đau sưng

  • Thực chứng: đau dữ dội, cục bộ sưng nóng đỏ, chảy mủ đặc, vàng tăng lên kèm theo có sốt cao (dương chứng).
  • Hư chứng: đau nhẹ kéo dài, có khi không đau, ấn đau tăng, cục bộ sưng không rõ rệt, chảy mủ ít, loãng kèm theo người gầy ít, ăn kém.

* Ngứa.

Do dịch mủ thường xuyên đùn ra kích thích gây ẩm ướt, ngúa khó chịu có khi gây lở loét, chàm hóa dầy cộp, đổi màu, lỗ ngoài sơ dầy.

* Thăm hậu môn bằng tay để xác định lỗ trong và đừơng rò, thường có trạng thái “Thừng – cứng” từ trong ra, ấn có mủ ở lỗ ngoài, thường không đau.

4. Biện chứng luận trị.

4.1. Loại thấp nhiệt:

* Chứng trạng

Thường gặp ở bệnh mới mắc hoặc thời kỳ tái phát: sưng, nóng, đỏ, đau kịch liệt, chảy mủ vàng, đặc hôi. Toàn thân sốt cao, khát, người nặng nề, táo bón, tiểu tiện vàng đỏ.

* Pháp điều trị

Thanh nhiệt lợi thấp

* Bài thuốc:

Tỳ giải thãm thấp thang gia giảm.

Tỳ giải 12g Hoàng bá 10g
Xích linh 12g Trạch tả 10g
Ý dĩ 20g Xích thược 10g
Xa tiền thảo 30g Đan bì 10g

* Ý nghĩa bài thuốc:

Tỳ giải, Hoàng bá cùng dùng thanh nhiệt lợi thấp. Xích linh, Trạch tả, Ý dĩ, Xa tiền thảo lợi thủy thẩm thấp. Xích thược, Đan bì giúp thanh nhiệt lương huyết.

4.2. Thể khí huyết hư.

*Chứng trạng

Bệnh diễn biến mạn tính, tại chỗ sưng không rõ ràng, đau ít, mủ ra ít, loãng, không hôi. Toàn thân gầy sút, ăn kém, dạ xạm, lưỡi nhạt, rêu ít, mạch trầm nhược.

* Pháp điều trị

Ích khí dưỡng huyết –trừ thấp.

* Bài thuốc:

Bát trân thang

Đẳng sâm 20g Bạch truật 10g
Phục linh 10g Chích cam thảo 10g
Đương quy 12g Thục địa 12g
Xích thược 10g Xuyên khung 10g
Hoàng bá 10g Hổ trương 30g

* Ý nghĩa bài thuốc:

Trong bài thuốc: Đẳng sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo bổ tỳ ích khí. Đương quy, Bạch thược, Thục địa tư dưỡng can thận. Xuyên khung vào huyết phận để lý khí ở trong huyết. Hoàng bá, Hổ trượng thanh lợi thấp nhiệt.

5. Các phương pháp phẫu thuật.

5.1. Phương pháp cắt mở đường rò.

  • Chỉ định: rò hậu môn vị trí thấp (rò trong cơ thắt)- rò đơn giản.
  • Chống chỉ định: rò do lao.
  • Phương pháp: từ miệng ngoài tiến vào, cắt mở đường rò thẳng tới lỗ trong, phẫu thuật 1 lần, kết hợp ngâm rửa bằng dung dịch Tam hoàng, bơm cao sinh cơ hàng ngày đảm bảo liền từ đáy lên, và từ trong ra ngoài.

5.2. Phương pháp cắt mở đường rò bằng chỉ đàn hồi.

  • Chỉ định

+ Rò đơn giản, rò vị trí thấp.

+ Rò xuyên cơ thắt cao, rò trên co thắt, rò phức tạp.

  • Chống chỉ định: Rò hậu môn do lao.
  • Phương pháp: Luồn que thăm từ lỗ ngoài qua đường rò tới lỗ trong chạm vào đầu ngón tay đỡ trong ống hậu môn, uốn cong que thăm đưa đầu que thăm ra ngoài hậu môn, thắt một mối chỉ line với vòng cao su (cổ bao cao su), kéo ngược trở lại, dây cao su được luồn từ lỗ trong qua đường rò ra lỗ ngoài. Kéo căng 2 đầu cao su dùng Pince kẹp cố điịnh – thắt bằng chỉ line đảm bảo dây cao su đủ căng vừa đẻ cắ từ từ mở đường rò, vừa để dẫn lưu.

Ngâm rửa bằng dung dịch Tam hoàng mỗi ngày 2 lần, bơm cao sinh cơ vào đường rò, kiểm tra dây lỏng tiến hành thít chặt dần. Trung bình từ 8 – 10 ngày mở thông đường rò, tổ chức lành phát triển từ đáy lên và từ trong ra ngoài, bảo đảm được chức năng cơ vòng, vết rò liền có tính tự nhiên tránh được tái phát.

6. Phòng bệnh

  • Vệ sinh, giữ gìn sạch vùng hậu môn tránh phá sinh nhiễm khuẩn xung quang hậu môn, tập thói quen đại tiện, tránh táo bón, kiêng thức ăn cay, nóng.
  • Điều trị tích cực bệnh nứt kẽ hậu môn.
  • Khi bị áp xe vùng hậu môn cần được khám và điều trị tích cực tại các cơ sở y tế chuyên khoa để tránh hình thành rò hậu môn.

Áp xe quanh hậu môn trực tràng

Áp xe quanh hậu môn trực tràng

Áp xe quanh hậu môn trực tràng là trạng thái viêm nhiễm cấp tính các tuyến, các hốc hậu môn trực tràng, bệnh thuộc phạm vi chứng “giang ung” của y học cổ truyền. Bệnh hay gặp ở thanh niên, trung niên béo khỏe, nam nhiều hơn nữ, diễn biến của bệnh … [Continue reading]

Ung thư hậu môn trực tràng

Ung thư hậu môn trực tràng

THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI 1. Đại cương Ung thư hậu môn trực tràng bao gồm ung thư trực tràng và ung thư ống hậu môn, là loại u bướu ác tính và thường thấy của đường tiêu hóa chỉ đứng sau ung thư dạ dày. Bệnh có xu hương tăng theo tuổi, lứa tuổi hay … [Continue reading]

Eczema quanh hậu môn – chàm hậu môn

eczema hậu môn, chàm hậu môn

Eczema quanh hậu môn hay còn gọi là Chàm hậu môn biểu hiện bằng những mẩn mụn ướt xung quang hậu môn, là một bệnh ngoài da thường gặp ở vùng hậu môn. Bệnh  không phân biệt giới tính và tuổi tác, hay tái phát từng đợt. Bệnh thuộc phạm vi chứng tấp … [Continue reading]

Chữa nứt kẽ hậu môn

Nứt kẽ hậu môn

NỨT KẼ HẬU MÔN THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI Nứt kẽ hậu môn cũng là một chứng bệnh rất hay gặp, tổn thương cơ bản là một vết loét hình thuyền dọc theo ống hậu môn. Biểu hiện lâm sàng đặc hiệu là đau dữ dội và co cứng tròn, bệnh thường gặp ở người trẻ, chẩn … [Continue reading]

Chữa bệnh sa trực tràng bằng đông y

Sa trực tràng

SA TRỰC TRÀNG THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI Sa trực tràng là gì? Sa trực tràng là tình trạng bệnh lý mạn tính tại trực tràng và ống hậu môn khi một hoặc nhiều lớp của trực tràng, ống hậu môn sa ra ngoài hậu môn. Bệnh gặp ở cả nam và nữ, ở mọi lứa tuổi, … [Continue reading]

Chữa bệnh viêm tụy

viêm tụy cấp

THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI. 1. Viêm tụy cấp. 1.1. Đại cương Viêm tụy cấp là tình trạng bệnh lý do chính các men tụy tăng cường hoạt động làm tiêu hủy tổ chức của tụy. 1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh. * Nguyên nhân Nguyên nhân chữa … [Continue reading]

Chữa bệnh xơ gan

xơ gan

XƠ GAN THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI Xơ gan là bệnh mạn tính gây thương tổn nặng lan tỏa ở các thùy gan. Đặc điểm thương tổn là mô xơ phát triển mạnh, động thời cấu trúc các tiểu thùy và mạch máu của gan bị đảo lộn một cách không hồi phục. Nguyên nhân và cơ … [Continue reading]

Hôn mê gan

Hôn mê gan

I. THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI 1.1. Đại cương Hôn mê gan là tình trạng bệnh lý làm cho người bệnh mất vận động tự chủ, mất trí tuệ, mất cảm giác hoàn toàn, nhưng còn thở, tim còn đập, các cơ quan bài tiết còn hoạt động. Bệnh thường xảy ra ở giai đoạn cuối … [Continue reading]