Nguyên Nhân Sa Trực Tràng

Sa trực tràng là do sự suy yếu của các dây chằng và cơ gắn trực tràng vào khung chậu.Trong nhiều trường hợp có sa trực tràng thì cơ vòng hậu môn thường yếu.

3 yếu tố chính dẫn đến sa trực tràng:

  1. Cơ nâng hậu môn yếu, co thắt hậu môn
  2. Có các yếu tố kích thích liên tục nên phải rặn nhiều gây tăng áp lực trong ổ bụng
  3. Yếu mạc ngang, màng bụng phần tiểu khung kéo dài và yếuNguyên nhân bệnh sa trực tràng

Nguyên nhân chính xác của sự suy yếu này là không rõ, tuy nhiên, sa trực tràng thường được kết hợp với các điều kiện sau đây:

Sa trực tràng do Tăng áp lực kéo dài và đột ngột trong ổ bụng

  • Táo bón thời gian dài: Những người bị táo bón, khi đại tiện phải rặn. Khi rặn áp lực ổ bụng tăng lên rất nhiều. Hơn 50% bệnh nhân sa trực tràng có chứng táo bón kinh niên
  • Tiêu chảy kéo dài: Khi bị tiêu chảy, mỗi ngày phải đại tiện nhiều lần và mỗi lần đại tiện phải rặn nhiều. Sa trực tràng có thể khởi phát sau đợt tiêu chảy hoặc lỵ.
  • Mang thai và rặn nhiều trong sinh nở, đẻ nhiều: Sau các phẫu thuật sản phụ khoa. 25% số bệnh nhân sa trực tràng có tiền sử mổ các bệnh sản phụ khoa
  • Người lớn tuổi
  • Phải rặn nhiều trong suốt quá trình đại tiện
  • Viêm đại tràng mạn, hội chứng ruột kích thích
  • Mang vác nặng
  • Phẫu thuật
  • Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính
  • Ho gà, hen phế quản, suy tim
  • Bại liệt
  • Cơ nâng hậu môn yếu
  • Quan hệ tình dục qua đường hậu môn

Nguyên nhân sa trực tràng do suy Dinh dưỡng

  • Suy dinh dưỡng do ăn uống không đầy đủ
  • Thiếu vi chất, thiếu vitamin nhóm B.
    Những bệnh nhi sa trực tràng do nguyên nhân này, nếu được nuôi dưỡng tốt, bệnh có thể khỏi

Nguyên nhân do khuyết tật về giải phẩu do bẩm sinh hoặc mắc phải:

  • Mất độ cong sinh lý trực tràng, mất góc gấp giữa trục của ống hậu môn và trục trực tràng. Bình thường chỗ nối giữa bóng trực tràng và ống hậu môn có độ gấp khúc, tạo nên một góc, thay đổi từ 80 đến 100 độ, mở ra phía sau. Khi độ gấp góc này giảm hay mất đi, sa trực tràng sẽ xuất hiện.
  • Đại tràng sigma dài quá mức.
  • Túi cùng Douglas thấp, khi áp lực bụng tăng, túi cùng Douglas đè vào thành trước trực tràng, dần dần đẩy trực tràng ra ngoài hậu môn là thoát vị trượt. Túi cùng Douglas thấp là nguyên nhân của sa trực tràng phía trước
  • Không đầy đủ các cấu trúc giải phẫu cố định trực tràng nhất là phía sau, Trực tràng không dính vào thành bụng sau nên có thể di động dễ dàng, trượt xuống dưới và sa ra ngoài
  • Đáy chậu khiếm khuyết. Khuyết tật hoặc đứt rách do chấn thương hệ thống cân cơ đáy chậu, hoành đáy chậu rộng, cơ nâng hậu môn và các cơ thắt hậu môn bị nhão làm cho thành trước trực tràng sa ra ngoàiVan trực tràng kém phát triển, Các van Houston trên, giữa, dưới phát triển không tốt, giảm độ cản, trực tràng dễ sa xuống.
  • Thiếu độ cong xương cùng. Về cấu tạo giải phẫu, xương cùng có độ cong, trực tràng nằm tựa vào độ cong này. Khi xương cùng không có độ cong, trực tràng mất chỗ tựa.

Trên đây là các nguyên nhân chính gây bệnh sa trực tràng. Bạn có thể xem thêm: cách chữa bệnh sa trực tràng bằng đông y

Chữa hội chứng ruột kích thích

I. Hội chứng ruột kích thích theo y học hiện đại

  1. Một số hiểu biết về Hội chứng ruột kích thích theo Y Học Hiện Đại

Hội chứng ruột kích thích được Thompson.W.G 1990 nêu như sau: các rối loạn chức năng ruột, tái đi tái lại nhiều lần mà không tìm thấy tổn thương về giải phẫu, tổ chức học, sinh hóa gọi là Hội chứng ruột kích thích.

1.1. Sinh lý bệnh:

Sinh lý bệnh của Hội chứng ruột kích thích cho tới nay chưa được hiểu biết rõ ràng. Người ta đưa ra nhiều giải thuyết như sau:

  • Rối loạn sự vận động của ruột.
  • Rối loạn về cảm thụ của ống tiêu hóa.
  • Các yếu tố thần kinh trung ương: stress, rối loạn về tinh thần, yếu tố tâm sinh lý.

Ngoài các yếu tố đã nêu trên, còn một số vấn đề về sinh lý bệnh học mà rất nhiều các tác giả đã nghiên cứu: Mất cân bằng của chất dẫn truyền thần kinh, nhiễm khuẫn và viêm, không dung nạp thức ăn.

1.2. Triệu chứng:

Triệu chứng Lâm sàng:

* Triệu chứng cơ năng: thường có triệu chứng nổi bật ở đường tiêu hóa:

+ Rối loạn đại tiện: Đây là triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất.

  • Ỉa lỏng: phân nhão, lỏng xảy ra từng đợt, có thể sống phân, đi ngoài nhiều lần trong ngày (>3 lần), có thể nhầy mũi nhưng không có máu.
  • Táo bón: thường đi ngoài < 3 lần/ tuần, phân có khi lổn nhổn giống phân dê, thường kèm theo mũi nhầy bọc ngoài phân. Người bệnh có cảm giác chưa thoải mái hoặc chưa đi hết phân sau khi đi đại tiện.
  • Táo bón luân phiên: táo lỏng xen kễ từng đợt, thời gian cách nhau giữa các đợt rất thay đổi, có thể có sa trực tràng.

+ Đau bụng: Là triệu chứng thường gặp, đau có tính chất mạn tính, đau âm ỉ dai dẳng, vị trí thường thấy nhất là ở vùng hạ vị hoặc hố chậu trái, cũng có thể đau bên phải hoặc thượng vị, đau có thể chạy dọc khung đại tràng.

+ Chướng bụng: Chướng bụng nhiều sau khi ăn, còn sau ngủ dậy thì không bị hoặc chỉ bị nhẹ, nếu ợ hơi hoặc trung tiện được mới thấy dễ chịu. Thường kèm theo sôi bụng, có khi ruột cuộn thành đoạn cứng và đau, day hoặc xoa một lúc thì mất đi hoặc để tự nhiên cũng mất.

Ngoài ra còn có các tiệu chứng không phải đường tiêu hóa: đau đầu, mệt mỏi, ra mồi hôi chân tay, hồi hộp, lo lắng, mất ngủ, rối loạn kinh nguyệt ở nữ. liệt dương ở nam, tiểu nhiều lần trong ngày, tiểu đêm. Tinh thần tỏ ra lo lắng, tính khí thay đổi, dễ buồn, dễ vui.

* Triệu chứng thực thể.

  • Toàn trạng: Mặc dù bệnh diễn biến kéo dài nhưng thể trạng chung của người bệnh vẫn tương đối bình thường.
  • Khám bụng có thể có chổ co thấy của đại tràng nhưng dễ thay đổi vị trí.
  • Thăm trực tràng: có thể có phản xạ co thắt.Hội chứng ruột kích thích

Cận lâm sàng:

  • Nội soi đại tràng: Không có tổn thương thực thể.
  • XQ khung đại tràng: Không tìm thấy hình ảnh tổn thương ở đại tàng.
  • Xét nghiệm huyết học và sinh hóa: trong giới hạn bình thường.
  • Xét nghiệm phân: Không có máu, không có vi khuẩn gây bệnh và ký sinh trùng gây bệnh/

1.3. Chẩn đoán hội chứng ruột kích thích:

Chẩn đoán xác định dựa vào:

+ Lâm sàng: Dựa vào tiêu chuẩn Rome II.

Ít nhất 12 tuần (không cần liên tục) trong 12 tháng vừa qua, có triệu chứng đau bụng hoặc khó chịu vùng bụng, với 2 trong 3 đặc điểm:

  1. Giảm khi đi ngoài, và hoặc
  2. Kết hợp với thay đổi số lần đi ngoài và/hoặc.
  3. Thay đổi hình dạng phân

Tuy nhiên, không phải bệnh nhân nào cũng có đầy đủ các triệu chứng này: Vì vậy, phải đưa ra một số tiêu chuận bổ sung khác.

Có trên 2 triệu chứng sau đây, ít nhất xảy ra trong ¼ thời gian:

  1. Bất thường về số lần đi ngoài.
  2. Bất thường về hình dạng phân.
  3. Bất thường khi đi ngoài.
  4. Đầy hơi hay cảm giác tức bụng.

+ Cận lâm sàng: Không có một xét nghiệm nào đặc hiệu cho Hội chứng ruột kích thích, vì vậy chẩn đoán thường dựa vào các triệu chứng lâm sàng kết hợp với các xét nghiệm cận lâm sàng để chẩn đoán phân biệt Hội chứng ruột kích thích với các bệnh tổn thương thực thể khác.

Xét nghiệm phân: để loại trừ các bệnh viêm đại tràng do ký sinh trùng, vi khuẩn. Soi đại tràng và XQ khung đại tràng: để loại trừ các bệnh thực thể như polip, ung thư, loét, viêm…Xét nghiệm công thức máu, chức năng gan, thận để loại trừ các bệnh toàn thân.

1.4. Điều trị.

+ Chế độ ăn uống:

Ăn kiêng: những thức ăn không thích hợp như sữa : tôm, cua, cá. Bệnh nhân phải tự tìm những thức ăn thích hợp, tránh các thức ăn thức ăn sinh hơi nhiều và khó tiêu, những chất kích thích, thức ăn để lâu.

+ Luyện tập: luyện đi ngoài ngày 1 lần vào buổi sáng kết hợp massage bụng buổi sáng để gây cảm giác đi ngoài.

+ Điều trị triệu chứng:

A, Chống đau, chống co thắt: Pholoroglucinol (spasfon), Trimebutill (debridat)…

B, Chống táo bón: Forlax, Sorbitol…

C, Cầm ỉa chảy: dùng các thuốc làm chậm nhu động ruột, tạo màng bọc niêm mạc: Actapulgite, Smecta…

D, Chống chướng bụng đầy hơi: debridat, motilium M.

E, Diệt khuẩn ruột: khi có nhiễm trùng ruột phối hợp.

G, Tâm lý trị liệu.triệu chứng ruột kích thích

II. Hội chứng ruột kích thích Theo y Học cổ truyền

Y học cổ truyền không có tên bệnh hội chứng ruột kích thích, nhưng căn cứ trên các biểu hiện lâm sàng có thể thấy Hội chứng ruột kích thích thuộc phạm vi các chứng “Tiết tả”, “Táo kết, “Phúc thống” của Y học cổ truyền. Đầy là một chứng bệnh gây ra do sự rối loạn chức năng sinh lý của trường đạo với các biểu hiện lâm sàng chủ yếu là: Phúc thống, phúc chướng và phúc tả. Bệnh chiếm tỷ lệ khá cao trong nhóm bệnh rối loạn chức năng sinh lý của các tạng.

+ Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh.

Theo quan niệm Y học cổ truyền bệnh phát sinh do các nguyên nhân sau:

– Do nội nhân (thất tình): giận giữ gây tổn thương Can, Can mất chức năng sơ tiết gây khí trệ không thông, hoàng nghịch phạm tỳ, làm tỳ thổ sinh rối loạn, hư yếu, công năng vận hóa suy giảm.

Suy nhược thần kinh, Lo lắng suy nghĩ nhiều tổn thương đến Tỳ, Tỳ hư không vận hóa, thủy thấp trở trệ ở bên trong, khí cơ không thông suốt gây bụng chướng, sôi bụng, đại tiện lỏng nát.

Ngoài ra, can uất bất đại làm khí cơ trở trệ hóa nhiệt làm tổn thương đến tân dịch khiến cho tràng táo không nhuận.

– Bất nội ngoại nhân: Ăn uống không điều độ kết hợp lao động mệt mỏi quá mức, hoặc uống quá nhiều thuốc đắng hàn, ăn nhiều dầu, mỡ, sống, lạnh khiến thức ăn đình trệ lại, gây tổn thương Vị, tổn thương Tỳ khí, công năng thăng giáng của tỳ vị không bình thường, khí cơ không thông, bụng chướng đầy, đại tiện rối loạn.

– Do ngoại nhân (lục dâm): Cảm thụ hàn thấp tà, từ biểu vào lý, xâm nhập vào tỳ vị. Tỳ ưa táo mà không ưa thấp, do đó thấp tà dễ hại đến tỳ mà gây ra bệnh, làm chức năng thăng giáng tỳ vị mất điều hòa, thanh lọc không phân, khí trệ không thông gây đau bụng, đại tiện lỏng nát.

Biện chứng luận trị:

  1. Thể hàn thấp:

– Triệu chứng: đau bụng âm ỉ, sôi bụng, đại tiện lỏng bạc màu như phân vịt. Mệt mỏi, sợ gió lạnh, đau đầu, đau mình, rêu lưỡi trắng, nhớt, mạch nhu hoãn.

– Pháp điều trị: Giải biểu tán hàn, hóa trọc chỉ tả.

– Bài thuốc: Hoắc hương chính khí tán gia giảm.

Hoắc hương 40g Hậu phác 12g
Tô diệp 10g Trần bì 6g
Bạch chỉ 10g Cát cánh 10g
Gừng 4g Đại táo 4 quả
Đại phúc bì 12g Bạch truật 10g
Phục linh 8g Bán hạ chế 6g
Cam thảo 6g

Tán bột, ngày uống 16-20 g.

– Phương huyệt: Châm tả: thiên khu, trung quản, hợp cốc, túc tam lý…

  1. Thể thấp nhiệt.

– Triệu chứng: Đau bụng từng cơn, đau quặn, thường hay mót đại tiện, đại tiện phân sống, có nhầy, phân vàng nhớt mùi thối, hậu môn nóng rát, tiểu tiện ngắn vàng, rêu lưỡi vàng dầy nhớt, chấ lưỡi hơi đỏ, mạch nhu hoạt hoặc nhu sác.

– Phương điều trị: Thanh nhiệt lợi thấp, hóa trọc chỉ tả.

– Bài thuốc: Cát căn cầm liên thang gia giảm.

Cát căn 12g Hoàng liên 8g
Hoàng cầm 12g Nhân trần 20g
Kim ngân hoa 16g Cam thảo 6g
Mộc thông 12g Hoắc hương 6g

– Phương huyệt: châm tả: thiên khu, trung quản, hợp cốc, túc tam lý, nội đình, âm lăng tuyền.

  1. Thể thương thực.

– Triệu chứng: đau bụng nhiều, sôi bụng, đại tiện phân sống mùi rất thối, đại tiện xong đỡ đau. Bụng đầy chướng, không muốn ăn, ợ ra mùi chua và nồng, rêu lưỡi đầy bẩn, mạch huyền sác hay trầm huyền.

– Pháp điều trị: tiêu thực đạo trệ.

– Bài thuốc: Bảo hòa hoàn gia giảm,

Sơn tra 12g Thần khúc 8g
Bán hạ 12g Phục linh 12g
Trần bì 4g Liên kiều 4g
Hạt cải củ 4g

– Phương huyệt: châm tả Thiên khu, trung quản, túc tam lý, tam âm giao, thái bạch…

  1. Thể can khắc tỳ.

– Triệu chứng: Đau bụng lan ra hai bên mạng sườn, đầy bụng, chướng hơi, đại tiện lúc táo lúc lỏng, phân có nhầy. Hay cáu gắt, ít ngủ, khi cáu gắt thì đau bụng, đi ngoài  tăng lên. Chất lưỡi đỏ hồng, rêu lưỡi trắng hoặc vàng, mạch huyền.

– Pháp điều trị: Thư can kiện tỳ (Điều hòa can tỳ).

– Bài thuốc: Thống tả yếu phương gia giảm.

Phòng phong 12g Trần bì 8g
Bạch truật 16g Bạch thược 12g

Phân tích bài thuốc: Thống tả yếu phương là bài thuốc có tác dụng tả can bổ tỳ. Phòng phong: tán can thư ty. Trần bì: lý khí tỉnh tỳ. Bạch thược: sơ can mộc. Bạch truật: kiện vận bổ tỳ.

Hoặc có thể dùng bài: Thống tả yếu phương hợp tứ nghịch tán gia giảm: Phòng phong, Trần bì, Bạch truật, Bạch thược + Sài hồ, Chỉ xác, Cam thảo.

– Phương huyệt: châm tả Thái xung, Chương môn, Kỳ môn, Can du, Tỳ du, Túc tam lý, Nội quan.

  1. Thể tỳ vị hư.

– Triệu chứng: đau bụng âm ỉ, đầy chướng, sôi bụng, chườm nóng đỡ đau. Người mệt mỏi, ăn kém, chậm tiêu, đại tiện thường nát lỏng, chất lưỡi bệu, có hằn răng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch nhu hoãn.

– Bài thuốc: Sâm linh bạch truật tán gia giảm.

Bạch truật 12g Đẳng sâm 12g
Biển đậu 12g Cam thảo 6g
Ý dĩ 12g Liên nhục 12g
Trần bì 6g Cát cánh 6g

Tán bột, ngày uống 20g hoặc sắc uống ngày 1 thang.

Phân tích bài thuốc: Sâm linh bạch truật tán là từ bài tứ quân mà thành. Tứ quân là phương thuốc chủ yếu có tác dụng bổ khí kiện tỳ, lại được gia thêm Biển đậu, Ý dĩ, Liên nhục nên tác dụng kiện tỳ càng mạnh mẽ. Trần bì có tác dụng lý khí tỉnh tỳ, chữa đầy chướng chậm tiêu. Cát cánh tải dược lên trên làm tăng tác dụng cảu bài thuốc.

Ngoài ra có thể dùng bái tứ quân tử thang gia giảm: gia Hoài sơn, Ý dĩ, Trần bì, Sa nhân.

– Phương huyệt: Châm bổ hoặc cứu: Trung quản, thiên khu, Đại hoàng, tỳ du, vị du, túc tam lý.

  1. Thể tỳ thận dương hư.

– Triệu chứng: ngũ canh tả: trước khi rạng sáng (canh năm) đau quặn vùng hạ vị, sôi bụng rồi đại tiện lỏng, sau đại tiện thì đau giảm. Mệt mỏi, sợ lạnh, chân tay lạnh, ăn kém, chậm tiêu, lưng gối mỏi yếu, chất lưỡi nhạt bệu, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch trầm tế nhược.

– Pháp điều trị: Ôn thận trợ tỳ dương, chỉ tả.

– Bài thuốc: Tứ thần hoàn.

Phá cố chỉ 16g Nhục đậu khấu 8g
Ngũ vị tử 6g Ngô thù 8g

Tán nhỏ, uống 20g/ngày hoặc sắc uống ngày 1 thang.

Phân tích bài thuốc: Phá cố chỉ: bổ mệnh môn hỏa, Ngô thù du: ôn trung trừ hàn. Nhục đậu khấu: hành khí tiêu thực, sáp tràng. Ngũ vị tử: liễm âm ích hkis, có sáp chỉ tả. Phối hợp các vị trên thành bài thuốc tứ thần hoàn có tác dụng ôn thận hoãn tỳ, sáp tràng chỉ tả.

Ngoài ra có thể dùng bài Phụ tử lý trung thang phối hợp với Tứ thần thang gia giảm.

– Phương huyệt: châm bổ hoặc cứu: Quan nguyên, Khí hải, Quy lai, Thận du, Tỳ du, Túc tam lý.

Xem thêm bài: Sa trực tràng

Bệnh động mạch chi dưới mạn tính

bệnh động mạch chi dưới mạn tính

I. ĐẠI CƯƠNG Bệnh động mạch chi dưới mạn tính là tình trạng bệnh lý của động mạch chủ và các động mạch chi dưới trong đó lòng động mạch bị hẹp gây giảm tưới máu cơ và các bộ phận liên quan (da, thần kinh) phía hạ lưu. Thiếu máu cơ sẽ dẫn đến chuyển … [Continue reading]

Chữa thiểu năng tuần hoàn não

bệnh thiểu năng tuần hoàn não

Thiểu năng tuần hoàn não điều trị theo Tây y Theo y hoc hiện đại Thiểu năng tuần hoàn não là danh từ thường dùng trong y học chỉ 1 trạng thái bệnh lý có rất nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau nhưng có cùng chung 1 cơ chế sinh bệnh đó là “Thiếu … [Continue reading]

Chứng Cơ Bắp Tê Dại

Chứng cơ bắp tê dại

Cơ bắp tê dại là chỉ tri giác ở cơ bắp toàn thân hoặc cục bổ giảm đi hoặc mất hẳn. Cơ bắp tê do phong thấp Chân tay tê dại, cơ bắp có từng mảng tê dại, nổ quang ban, không cảm giác lạnh, nóng và đau, da dẻ khô ráo không có mồ hôi, lông tóc rụng, đó … [Continue reading]

Chứng không có mồ hôi

Chứng không có mồ hôi

Chứng bệnh không mồ hôi? Không có mồ hôi là chỉ trường hợp đáng lẽ ra mồ hôi mà mồ hôi lại không ra. Các bệnh ngoại cảm hay nội thương đều có thể gặp chứng này. Ngoại cảm nhiệt bệnh mà không mồ hôi thường là chứng tà khí uất ở cơ biểu và tân dịch … [Continue reading]

Chứng trên người nóng dưới chân lạnh

Trên nóng dưới lạnh

Chứng nửa trên người nóng dưới chân lạnh? Chứng nửa trên người nóng dưới lạnh còn gọi là Thượng nhiệt hạ hàn là chỉ chứng ống chân giá lạnh mà sắc mặt lại đỏ bừng hoặc mặt phát nóng, họng đỏ và khô, miệng lưỡi mọc mụn. Nếu thấy chứng mình nóng … [Continue reading]

Chứng phát nhiệt: phát sốt

Chứng phát sốt, phát nhiệt

Phát nhiệt là chứng trạng thường gặp trong các tạp bệnh ngoại cảm và nội thương, có chia ra các loại hình sốt nhẹ, sốt cao, sốt từng cơn và sốt có thời gian nhất định khác nhau. Phát sốt có triệu chứng sợ rét, mạch Phù, không có mồ hôi, rêu lưỡi … [Continue reading]

Chứng hàn nhiệt vãng lai

Chứng hàn nhiệt vãng lai

Hàn nhiệt vãng lai là gì? Hàn nhiệt vãng lai là chỉ từng cơn rét cơn nóng thay đổi nhau, mỗi ngày một cơn hoặc mỗi ngày có vài cơn. Thường gặp chứng này trong Ngược tật, chứng Thiếu dương. Chữa chứng hàn nhiệt vãng lai bằng đông y Hàn nhiệt vãng … [Continue reading]